Trước và sau khi chết vì sao phải trở niệm A Di Đà Phật?

Thứ sáu - 27/09/2019 21:54
CON NGƯỜI TRƯỚC VÀ SAU KHI CHẾT TẠI SAO PHẢI TRỢ NIỆM 
A DI ĐÀ PHẬT ?
CÁCH TRỢ NIỆM A DI ĐÀ PHẬT 

( Do Pháp sư Đại Quang giảng tại bệnh viện Phật giáo Hồng Kông)
1. Trợ niệm là gì ?
         “ Trợ niệm” chính là lúc mà người bệnh không còn chữa trị thuốc thang được nữa,
thọ mạng đã hết, khi sắp kết thúc mạng sống, mời người khác đến giúp đỡ họ niệm Phật,
dùng công đức niệm Phật tiễn họ đi hết khoảng thời gian cuối cùng trên con đường của
đời người, để cho họ thật an lạc, tự do tự tại vãng sanh về cõi Phật. Như vậy bất kể là
người còn sống hay đã chết, cả hai đều được an lạc.
        
     Thí như một người phải đi máy bay hoặc ngồi tàu thủy đi về phương xa, thì bạn bè
thân thích đều đến để tiễn đưa, chúc phúc cho người ra đi có một cuộc hành trình vui vẻ.
Trợ niệm cũng giống như tình huống này vậy, chỉ chẳng qua khác nhau ở chỗ là tiễn biệt
là tiễn người còn sống đi phương xa, bạn bè thân hữu nói lời tiễn biệt; còn Trợ niệm là
tiễn đưa người chết vãng sanh về cõi Phật, vĩnh biệt lần cuối cùng. Đây là đặc điểm đặc
thù của Phật giáo, cũng chính là bản ý của việc trợ niệm.
   
   Mọi người đều biết, người thế gian ai cũng đều muốn sống nhiều thêm ít năm, ai cũng
không muốn chết, cũng không mong chết, nhưng ai cũng không tránh khỏi định luật vô
thường. Khi vô thường đến, mạng sống đã hết, thì không chết cũng không được, sợ chết
cũng phải chết, không sợ chết cũng phải chết. Con người cuối cùng ai cũng phải chết.
Đồng thời, mùi vị của cái chết hoàn toàn không dễ chịu chút nào. Phật nói: “ Người chết
như ngựa còn sống bị lột da”, đây là nói con người khi chết là một việc rất đau khổ.
Nhà Nho nói: “ Sáng nghe lời nói đạo lý, chiều chết cũng cam!” Tịa sao vậy? Vì người
chết mà nghe được đạo lý cũng như chưa chết, do họ nghe được đạo nên được siêu thăng.
Việc trợ niệm cũng giống như vậy. Trợ niệm chính là niệm Phật, Phật chính là đạo. Bất
kể người chết lúc còn sống làm nghề gì, chỉ cần họ có một việc làm thiện lúc sắp qua đời,
được gặp một người bạn tốt, khởi một niệm thiện trợ niệm cho họ, tụng câu Phật hiệu mà
bản thân người sắp qua đời đó cũng nương theo lời trợ niệm kia, được nghe Phật hiệu,
được vào Phật đạo, hồi quang phản chiếu mà được siêu thăng.
  Đây là bước quyết định quan trọng sinh tử của một người, cũng là tia sang cuối cùng
cảu đời người mà người bạn tốt tin Phật, không thể không trợ niệm cho họ! 

2. Tại sao phải trợ niệm? 
       Người bình thường cho rằng khi con người tắt thở thì coi như đã chết, nhưng sự thật
không phải vậy.
       Nên biết rằng con người sau khi chết, trong vòng 8 giờ, tuy họ không còn thở nhưng
8 thức ( nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, thức thứ bả là Mạc Na
thức hay còn có tên là thức truyền đạt, thức thứ tám là A Lại Da thức hay còn có tên là
hàm tàng thức. Tàng chứa tất cả các chủng tử dơ bNn và trong sạch) vẫn chưa hoàn toàn
đi hết, người bình thường gọi là ba hồn bảy vía vẫn chưa hoàn toàn rời khỏi. Tuy lúc đó
họ đã không thể nói năng, nhưng vẫn còn biết mơ mơ màng màng. Vả lại thường nảy sinh
lưu luyến đối với việc thế gian và nảy sinh ước vọng về tương lai. Đúng vào thời điểm đó,
dùng thiện nghiệp phụ trợ giúp họ, dùng tiếng niệm Phật chỉ dẫn họ, linh tánh của họ 
không bị mê muội, có thể nương vào tiếng niệm Phật đó mà tự biết đường vãng sanh về
cõi Phật.
Bạn đã từng đi vào chợ chưa? Bạn đã từng thấy cá lớn bày bán trong chợ cá chưa? Một
con cá lớn bị đặt trên thớt, sau khi người bán cá xẻ con cá còn sống ra làm hai miếng thì
bắp thịt và nội tạng của nó vẫn còn hoạt động, phải mấy giờ sau mới ngừng. Con thằn lằn
ở trên tường, đuôi sau khi bị cắt đứt vẫn cựa quậy không dứt. Con người bị tử hình, đầu
rời xuống đất nhưng toàn thân vẫn còn quằn quại. Gà sai khi bị cắt cổ vẫn giãy giụa. Điều
này chứng minh con ngườu tuy không còn thở nữa, nhưng tri giác cửa họ vẫn chưa hoàn
toàn rời khỏi. Theo như lời trong kinh Phật nói, sau khi chết khoảng 8 giờ thì thần thức
của họ mới hoàn toàn rời khỏi thân thể, biến thành Trung ấm. Trung ấm chính là lúc con
người đã chết mà linh tánh vẫn chưa đi đầu thai, gọi là “ Thân trung ấm” cũng gọi là
( Thân trung hữu”. Lúc này, quyến thuộc đang còn sống của họ không những cần phải
tụng kinh, sám hối, làm nhiều việc Phật sự để siêu độ cho họ.
 Còn một số vấn đề khác mà mọi người cần phải hiểu rõ, đó là con người sau khi chết,
theo như cách nói thông thường là “ Khí tNu xuân, nhục tNu nê”, tức là hơi thở thì đi theo
gió xuân, còn xác thịt thì biến thành bùn đất, mọi thứ đều không còn. N hưng linh hồn tinh
thần của họ, cũng từ đó mà biến thành hão huyền phải không?
Ở đây, nếu theo như kinh Phật đã nói, thì con người trong vòng 49 ngày sau khi chết,
thần thức của họ- tức thân trung ấm- nó đi về đâu là do ba sức mạnh sau quyết định: Một
là tùy theo nghiệp nặng mà đi, hai là tùy theo tập khí mà đi, ba là tùy theo niệm hiện tại
mà đi. Đặc biệt người thuộc loại thứ ba là nhiều nhất.
  •  Thứ nhất, tùy theo nghiệp nặng mà đi. N hư người đó ở đời, có nghiệp thiện lớn hoặc có
nghiệp ác lớn, trước khi chưa chết thì quả báo của họ đã định, tức là sau khi chết, ngay
sau đó có thể tùy theo nghiệp nặng mà đi thọ báo.
  •  Thứ 2 là tùy theo tập khí mà đi. N hư con người ở đời, mỗi người đều có sở thích riêng
của họ, mỗi người đều có sự yêu thích nghiêng về mặt nào đó của họ, tốt thì có thới quen
tốt, xấu thì có thói quen xấu, khi thói quen đã thành tính thì khó sửa đổi. Một khi chết đi
vẫn tùy theo thói quen sở thích của họ, trước tiên là đến môi trường cũng có cùng sở
thích giống nhau để đầu thai.
  •  Thứ 3 là tùy theo niệm hiện tại mà đi. Tức là tùy theo một niệm hiện tiền lúc lâm chung
của họ mà sanh vào lục đạo hay sanh về cõi Phật. Một niệm này là quan trọng nhất! N hư
người đó ở đời không có nghiệp thiện nào trọng đại, không có nghiệp ác nào trọng đại,
cũng không có thới quen ưu thích gì đặc biệt. Lúc mạng chung thì niệm hiện tiền của họ 
sẽ nương vào thể khí rất nhỏ ( giống như song điện vậy), tách biệt lơ lửng, chẳng biết đi
về đâu. Lúc đó nếu họ tiếng khóc lóc của người nhà thì lập tức cảm động khởi niệm tham
luyến. N ếu nghe được tiếng niệm Phật thì lập tức cảm động khởi niệm giải thoát. Tham
luyến thì đi xuống, giải thoát thì đi lên.
     Dân gian có câu tục ngữ rằng:
            “ N gàn tiếng gõ cồng, nhưng chỉ một tiếng quyết định!”
Việc trợ niệm này chính là “ một tiếng quyết định vậy!”. N ói rõ hơn, tức là dùng trợ
niệm để xoay chuyển ý niệm của người chết, khơi gợi niệm hiện tiền của họ, chỉ dẫn
niệm hiện tiền giúp họ. N ếu niệm từ bi lương thiện thì lập tức sanh về cõi lành, niệm tà ác
thì lập tức sanh về cõi ác, nên không thể không thận trọng.
Chữ “ N iệm” trong chữ Hán gồm có chữ “ Kim” có nghĩa là hiện nay ở trên và chữ
“ Tâm” ở dưới hợp chung lại chính là chữ “ N iệm”. “ N iệm đầu” tức là khởi đầu của tâm
hiện nay, không phải quá khứ,không phải vị lai,chỉ là khởi đầu của tâm hiện nay. N iệm 
đầu chính là điểm xuất phát của tâm hiện nay. N iệm đầu chính là điểm xuất phát của tâm
hiện nay, cũng chính là khởi tâm động niệm mà như dân gian thường nói. Lúc người chết
sắp sửa khỏi tâm, sắp sửa động niệm, thì ngay lúc đó chỉ dẫn thêm cho họ, đây chính là
lời giải thích tốt nhất cho việc tại sao phải trợ niệm.

3. Trợ niệm có lợi ích gì?
Đúng vậy! Có người hỏi tôi rằng: Trợ niệm có lợi ích gì? Vậy hãy từ từ nghe tôi giải
thích.
Mọi người đều biết: đời người người trải qua bốn giai đoạn, tức là sinh, già, bệnh,
chết: cũng gọi là bốn loại định luật. Ba điều phía trước thì hãy khoan bàn đến, chỉ nói
điều sau cùng là chết thôi! Từ xưa đến nay, biêt sbao nhiêu anh hung hảo hán, ai cũng
tránh không khỏi cửa này, nhưng chết thì có chia ra chết một cách vui vẻ và chết một
cách khổ sở.
    Theo như lẽ thường tình, con người còn muốn sống hưởng thụ thì lúc chết cũng
phải vui vẻ mới đúng. N ói chung con người lúc đang lâm chung có bốn hiện tượng
dưới đây: một là sợ chết, hai là đau khổ, ba là buông không được, bốn là thần trí mê
muội. Bốn loại hiện tượng này nếu như không giải quyết, chết trong tiếng khóc lóc
của người trong gia đình thì cái chết đó hoàn toàn không được vui vẻ. N hưng nếu như
dùng phương pháp trợ niệm, đó chính là lúc lâm chung có thể khai thị cho họ, an ủi
họ, nhắc nhở họ, chỉ dẫn họ, khiến cho họ ở trong tiếng niệm Phật, buông xả thân tâm,
chánh niệm rõ rang, thật tự nhiên, thật yên tĩnh vãng sanh về cõi Phật, như vậy chính
là chết một cách vui vẻ.
 N hà N ho thường nói: “ Quạ sắp chết thì tiếng kêu của nó thật buồn thương, con
người sắp chết thì lời họ nói là thiện”. N ói chung con người trong lúc vẫn còn một hơi
thở thì ai cũng không muốn chết, nhưng đến khi sắp tắt thở, biết không thể sống thêm
được nữa, thì sẽ hy vọng có một chỗ dựa, có chỗ bám víu. Lúc này dùng phương pháp
trợ niệm để người chết được nương vào ánh sang Phật của tự thân, thân tâm này cuối
cùng đều cso được chỗ quay về, đây chính là lợi ích của việc trợ niệm.
    Qúy vị hằng ngày đều nghe máy thu âm thông báo tin tức thời tiết, những thông
báo này là do nơi nào phát ra vậy? Là do máy phát thanh của đài thiên văn, qua đài
phát song, phát ra rất nhiều song điện, trong nhà của mọi người có máy thu âm, theo
tần số của đài phát song phát ra mà tiếp nhận được song điện, liền có thể nghe được.
Tâm lý của con người cũng giống như cái máy phát tin tức, khi tâm niệm vừa động, 
lập tức phát ra rất nhiều “ Sóng niệm”. Sauk hi phát ra, nó sẽ đi khắp, cùng loại sẽ tụ
tập với nhau, thiện niệm với thiện niệm tụ tập lại với nhau, ác niệm với ác niệm tụ tập
lại với nhau. Thiện niệm tụ tập thì nghiệp thiện tràn đầy, ác niệm tụ tập thì khắp nơi
đều là ác.
    Lợi ích của trợ niệm chính là dùng “ song niệm” do đại chúng niệm Phật phát ra,
làm trỗi dậy niệm đầu tiên mà người đã chết phát ra, giúp đỡ để niệm này của họ duy
trì không dứt. N hư vậy thì sẽ tụ tập với thiện niệm của mười phương pháp giới, công
phu rốt ráo thì tự nhiên thiện nghiệp sẽ tròn đầy, cuối cùng cũng nương theo thiện
niệm nhất tâm bất loạn đó mà vãng sanh về cõi Phật.
Thường thức bình thường phổ thông ai cũng đều biết, một niệm thiện tức là thiên
đường, một niệm ác tức là địa ngục. Thiên đường hay địa ngục là hoàn toàn dựa vào
một niệm hiện tiền. Hiện nay trợ niệm niệm Phật chính là muốn thúc đNy người chết 
trỗi dậy một niệm hiện tiền của họ, nắm chắc niệm hiền tiền đó, không để cho niệm
này bị sai lệch mà rơi vào đường tà.
4. Tại sao niệm A Di Đà Phật?
Lúc trợ niệm tại sao phải niệm A Di Đà Phật? Điều này có lợi ích gì? Xin thưa với
bạn, vì Phật A Di Đà lúc ngài thành Phật đã từng phả sra 48 đại nguyện, có một
nguyện trong đó nói là: “N ếu có người nào muốn sanh về cõi nước Cực Lạc của tôi,
thì họ chỉ cần niệm danh hiệu của tôi, niệm thật chí thành, dẫu cho chỉ niệm được
mười tiếng cũng có thể snah về thế giới Cực Lạc của tôi”. Do đó Phật giáo mới đề
xướng niệm Phật cầu vãng sanh về cõi Phật và chủ nhân của cõi Phật cũng dang tay
tiếp dẫn, hai bên ăn khớp với với nhau, hai bên đều chấp thuận thì nhất định vãng
sanh về cõi Cực Lạc.
Trợ niệm theo như người thường chúng ta mà nói, chỉ là nghe niệm một câu A Di
Đà Phật rất bình thường, nhưng trong con mắt của quỷ thần và cô hồn thì đó là ánh
sang vàng, là hoa sen, là rất nhiều tướng Phật. N gười chết nhìn thấy ánh sang vàng,
nhìn thấy hoa sen, nhìn thấy tướng Phật, thì tự niêm sinh tâm hoan hỷ, lập tức khởi
tâm siêu thăng về cõi Phật. Đây chính là lợi ích trong khi trợ niệm xưng niệm N am
mô A Di Đà Phật.
5. A Di Đà Phật có nghĩa là gì? 
      Trợ niệm tiễn đưa người chết là niệm N am mô A Di Đà Phật. Lâu nay thời khóa của
các chùa chiền lớn nhỏ, thậm chí là ứng đáp giữa con người với con người khi gặp nhau
cũng thường niệm A Di Đà Phật. Điều này có ý nghĩa gì ? Tôi xin giải thích sơ lược như
sau.
N am mô A Di Đà Phật, sáu chữ này là tiếng Phạn, tức là ngôn ngữ Sanskrit, nếu dịch ra
tiếng Tung Quốc thì N am Mô ( N aman- N amo) có nghĩa là quy mạng, quy t, kính lễ, cứu
tôi, độ tôi. A Di Đà Phật ( Amitabha Buddhaya) dịch là vô lượng thọ giác hoặc là vô
lượng quang giác. Hợp chung lại tức là quy mạng vô lượng thọ giác, vô lượng quang
giác ; cũng có thể nói là quy mạng vô lượng thọ giác dộ tôi, quy mạng vô lượng quang
giác cứu tôi.
 Sớ Quán Kinh của Đại sư Thiên Đạo nói rằng : N am Mô có nghĩa là quy kính, A Di Đà
Phật có nghãi là hành trì, tức là vừa quy kính vừa hành trì thì nhất định vẵng sanh về cõi
Phật.
 Hai chữ  ‘‘ Quy y ’’ còn có ý nghĩa là quay đầu, như nói : ‘‘ Biển khổ vô biên, quay đầu
là bờ ’’ hay ‘‘ Buông đao, lập tức thành Phật ’’. 
 N gười thế gian đối với với kẻ giang hồ buông thả, trôi dạt rày đây mai đó, thì có câu
nói dung tục rằng : ‘‘ Lãng tử quay đầu, vàng không đổi ’’
 Thiên chúa giáo và Cơ đốc giáo gọi người sau khi chết là ‘‘ ngừng vất vả để về với
chúa ’’, đều có nghĩa là ‘ quay đầu ’ vậy.
 Theo như đạo lý của Phật giáo thì khi một người sắp mạng chung, dùng phương pháp
Trợ niệm, đứng xung quanh người chét xưng niệm N am Mô A Di Đà Phật, tức là có ý
nhắc nhở người chết nên biết rằng biển khổ vô biên, quay đầu là bờ, phải nhân cơ hội này
hồi quang phản chiếu, nhận biết được tự tánh của bản thân mình mà trở về quê hương xưa
nay của mình. Vậy cái gì là quê hương xưa nay của mình ? Tức là tự tánh thanh tịnh của
mỗi người, thấy được Phật tánh tức là đã trở về với cõi Phật. 
6. Cách thức trợ niệm
   N gười bệnh lúc còn sống đã là bệnh khổ triền miên, khổ không thể tả. Trong khoảng
thời gian sắp tắt thở hoặc đã tắt thở, điều cần thiết nhất là yên tĩnh. Yên tĩnh có thể khiến 
cho người chết được chết an lạc. Lúc này có mấy điểm cần chú ý đối với người chết, đó
là : 
  • 1. Không được di chuyển 
  • 2. Không được khóc lóc
  • 3. Không được ồn ào
  • 4. Yên lặng niệm Phật
 Về điểm thứ nhất : không được di chuyển. Vì người chết cần yên tĩnh , nếu như di
chuyển họ, có thể khiến thân thể họ đau khổ , dễ sinh tâm sân hận, nếu sân hận thì lập
tức bị đọa lạc. N ếu như muốn tắm rửa hoặc thay cho họ, thì phải dự đoán để làm cho họ
trước khi họ bệnh nặng hoặc sau khi chết 8 giờ rồi hãy là cũng được. Đây là điểm thứ
nhất cần phải chú ý.

Thứ hai là không được khóc lóc . Bạn bè người thân qua đời mà quyến thuộc khóc lóc,
đây là chuyện thường tình của con người. N hưng người chết vừa tắt thở mà lập tức kêu
gào khóc lóc trước thi thể của họ, thì chỉ tăng làm thêm đau khổ và khó chịu cho họ.
Không bằng ngay lúc đó kiềm nén nước mắt mà thành tâm niệm Phật, để tiễn họ về thế
giới Tây Phương Cực Lạc, làm như vậy cả người sống và người chết đều được an tâm.
N ếu như bạn không kiềm nén được khóc lóc, thì có thể đến phòng khác, khóc to một trận
cho thư giãn bớt uât sức, đó cũng là biện pháp quyền biến vậy.

Thứ ba là không nên ồn ào. Sau khi người chết tắt thở, rất nhiều bạn bè thân hữu nghe
tin đến viếng thăm, đồng thời cũng có rất nhiều việc haiaj sự cần phải sắp xếp. N gười
nhiều thì tiếng ồn cũng nhiều, mỗi người một tiếng, thao thao không đứt, phá đi sự yên
tĩnh ; không những ảnh hưởng đến người chết , mà còn ảnh hưởng đến sự chuyên nhất
của người niệm Phật. Lúc đó nếu như có việc cần bàn bạc, thì tốt nhất mời đến một
phòng khác hoặc ra ngoài hành lang, để giữ sự yên lặng trong phòng, ung dung niệm
Phật, để người chết chỉ nghe được tiếng niệm Phật, tâm niệm cuyên nhất, niệm thanh
tịnh liên tiếp mới là chánh đạo.
 
Thứ tư là yên tĩnh niệm Phật. Phàm là đệ tử Phật hoặc không phải là đệ tử Phật, đã biết
lợi ích của việc trợ niệm, khi đoán biết thọ mạng của người trong gia đình đã hết, hoặc
chưa ngưng thở, hoặc dần dần ngưng thở, hoặc đã tắt thở, hoặc giả người bệnh sớm biết
và có dặn dò, thì bắt đầu chuNn bị việc trợ niệm, thông báo cho bạn bè trong ban trợ 
niệm biết để đến niệm Phật, tiễn họ vãng sanh.
Phương thức niệm Phật có ba cách :
1. Dùng máy niệm Phật đã chuNn bị, chỉ cần bấm nút thì có thể xương niệm ;
2. Ccá thiện hữu cùng niệm theo máy niệm Phật ;
3. Không dùng máy niệm Phật, chỉ mấy vị thiện hữu cùng niệm. 
8goài ra còn có mấy điểm cần chú ý :
1. Số người không cần quá nhiều ;
2. Số người đông có thể chia nhóm niệm thay phiên, để tránh thời gian kéo dài làm
nhọc sức ;
3. Có thể không đánh linh để tránh âm thanh trói tai. N ếu như phải đánh thì nên đánh
nhỏ, đặt ở nơi cách xa người chết ;
4. Không cần đốt nhang, có thể cúng một bó hoa nhỏ ;
5. Không nên quấy nhiễu sát giường người bệnh. N ên nhớ điều này thật kỹ ! 
6. Sau 8 giờ mới được di chuyển thi thể của người chết.
7. N ếu phòng người bệnh đông người không tiện, thì có thể đem di thể cùng với
giường, tất cả đưa vào thang máy chuyển đến phòng nhập liệm, tiếp tục niệm Phật
đến 8 giờ rồi mới di chuyển.
8. N ếu như người bệnh ngồi mà đi, thì có thể để họ ngồi tự nhiên 8 giờ, không cần
phải đậy bất kỳ vậy gì lên. Điều duy nhất cần chú ý là không để cách ngồi của họ bị
xiêu vẹo.
9. Không cần mặc đồ đẹp cho người chết, trên thân có thể phủ một chiếc khăn trải
giường. N gười chết rốt cuộc rồi cũng đem chôn hoặc thiêu, nên mặc đồ đẹp cũng vô
ích. Có thể trước khi chết đme những đồ đo sđi tặng cho người khác, để kết duyên
cùng họ, như vậy còn có công đức. 
10. Sau 8 đến 12 giờ, lo liệu tất cả việc hậu sự, duy nhất tiếng niệm Phật vẫn có thể tiếp
tục.
Khoa học phát triển, dùng máy niệm Phật ãnh đạo niệm Phật đương nhiên là tiện lợi,
nhưng rốt cuộc người niệm là tốt nhất. Tối thiểu cần 1-2 người cùng niệm với máy,
không nên gây tiếng động quấy nhiễu sự yên tĩnh.

7. Hát xong người không đi phải làm thế nào ?
   Thông thường hay nói : ‘‘ Hát xong thì người đi ’’. N iệm Phật chính là hát bài hát
vô sanh, hát xong bài hát thì người cũng phải đi. N hưng cũng có khi hoàn toàn không
như vậy, hát xong rồi mà người không đi, muốn diễn kịch tiếp thì phải làm thế nào ?
Điều này tỉ như trợ niệm đưa người vãng sanh, niệm xong Phật hiện rồi mà người vẫn
chưa vãng sanh, ngược lại còn tỉnh dậy, lại sống tiếp thêm hơn 10 năm, vậy thì phải
làm thế nào ?
Đáp : đây là việc tốt,là việc đáng mừng, là điềm tốt đẹp. N gười đã chết rồi, nhờ vào
công đức niệm Phật mà tỉnh lại, chẳng phải càng tốt hay sao ? Vốn dĩ thọ mạng đã hết,
nhờ công đức niệm Phật lại được tăng thêm thọ mạng, chẳng phải càng tốt sao ? Vốn
dĩ trước đây thường có bệnh, nhờ công đức niệm Phật mà các thứ bệnh không còn,
thọ mạng được kéo dài chẳng phải càng tốt sao ?
Ở đây tôi xin nêu ra mấy ví dụ có thật cho quý vị thấy.
 Đại sư Đàm Hư, năm 17 tuổi đã chết một ngày một đêm, do hứa lễ tạ tụng Kinh
Kim Cang mà được hoàn dương tỉnh lại. Từ đó về sau, trong khoảng thời gian từ 60
đến 85 tuổi lúc bệnh nặng, tôi đã từng bốn lần trợ niệm tiễn ngài vãng sanh, đều là 
nương vào công đức niệm Phật,  chết đi sống lại, sống đến 89 tuổi mới nhập diệt.
N gười bình thường cho rằng niệm Phật A Di Đà là niệm cho người chết, còn đối với 
người sống ‘‘ đang thuận lợi như thế ’’ là không may mắn , đây là quan niệm cực
đoan sai lầm. Bạn thấy, accs chùa chiềng mỗi ngày 5 thời khóa công phu đều là niệm
Phật, điều này không những trừ được những điều không may mắn , hơn nữa còn có
nhiều công đức !
N hư người đi xa thì trước tiên phải chuNn bị hành trang. Muốn sanh về cõi Phật thì
niệm Phật là hành trang, đây gọi là ‘‘ hành trang Tịnh Độ’’. Một người niệm dồn góp
lại được bao nhiêu ức vạn tiếng niệm Phật, đây chính là tiền vốn để vãng sanh về cõi
Phật. Đã có tồn trữ tiền vốn về cõi Phật là việc đáng vui mừng vậy !
N ên biết, niệm Phật là việc công đức, để con người trồng đức tu phước, trưởng
dưỡng bồ đề, tăng trưởng thiện căn. N gười thế gian không có ai chê rằng công đức
của mình quá nhiều. Việc thiện công đức, làm càng nhiều càng tốt. N iệm Phật nhiều 
một chút để làm hành trang vãng sanh về cõi Phật, lúc sắp lâm chung dự đoán biết
được giờ đi, thân thể không có bệnh khổ, ra đi một cách nhẹ nhàng, hóa sanh vào hoa
sen, đây mới là việc may mắn và tốt lành lớn nhất vậy.
Theo như trong kinh Phật đã nói, khi người thế gian muốn snah về Tây Phương bắt
đầu niệm Phật, thì thế giới cực Lạc liền có một đóa hoa sen bắt đầu xuất hiện. Công
hạnh niệm Phật càng sâu, thì hoa sen cũng sẽ tăng trưởng càng lớn . Trong kinh Di
Đà nói rằng : ‘‘ Hoa sen trong ao lớn như bánh xe’’. Việc này là rất tốt.
N ăm 1964, tôi đi hành hương qua Ấn Độ, đã từng thấy hoa sen ở bên đó lớn hơn bảy
tấc, lá sen lơn hơn hoa sen. N hư vậy so với bánh xe ở xứ ta đây thì lớn hơn rất nhiều !
N gười niệm Phật, vừa niệm Phật vừa phát nguyện vãng sanh, đến lúc lâm chung thì
hoa sen dần dần nở ra. Cho đến khi người bên này muốn vãng sanh, trong tiếng niệm
Phật cuối cùng ngừng thở, thì linh tánh cảu họ ở thế giới Cực Lạc cũng liên ftuwcs
khắc hóa sanh trong hoa sen. 
Có người muốn hỏi : con người là động vật có tánh linh, hoa sen là thực vật không
có tánh linh, vậy thực vật sao có thể hóa sanh thành động vật được ?
Xin đáp : không phải vậy ! Ví dụ cây cối của thế giới chúng ta đây là thực vật, có
thể sinh ra sâu bọ. Đất đai cũng có thể sinh ra sâu bọ. N ước sông, nước biển cũng có
thể sinh ra sâu bọ và sinh ra rất nhiều động vật hải sản. Chim Kiêu ôm đá thành con,
nở thành chim Kiêu con. Rồng lauwr, thứ lửa, ngạ quỷ khắp người là lửa, không ngại
sinh tồn. Hư không thể của nó là không, không có vật, cũng sinh ra rất nhiều sinh vật.
Đông Trùng Hạ Thảo, mùa đông là sau, đến tiết Kinh trập Nn vào trong đất, đến mùa
hạ thành cỏ, lớn lên mạnh mẽ trên mặt đất, một nửa là thực vật, một nửa là động vật,
có khi là thực vật có khi là động vật. Trong biển khơi, muôn ngàn vật thể vừa là động
vật , vừa là thực vật. Khi Phật còn tại thế, ở Ấn Độ có một cây N ại sinh ra quả dứa
lớn, trong quả dứa sinh ra một N ại nữ( xem Kinh N ại N ữ N hân Duyên). N hững ví dụ
dạng này không sao kể hết.
Thông thường khi nam nữ ân ái nhau, nương vào tinh cha huyết mẹ, nhập tưởng vào
đó mà thành thai, sinh ra làm người là sinh ra từ nơi bất tịnh, thuộc vào loại phàm thai.
N gười niệm Phật tâm nguyện thành kính, niệm thanh tịnh liên tiếp, tụ hội công đức,
lấy hoa sen làm cha mẹ nên thuộc về thánh thai. Lời nói ấy là từ kinh khNu của Phật
nói ra, là hoàn toàn đúng, ta không nên nghi ngờ.
N hư thơ Tịnh Độ nói rằng ;
       hất đóa liên hàm nhất thánh thai 
       hất thanh công tựu nhất hoa khai
       Xứng thân Anh Lạc tùy thân hiện
       Doanh khí tô đà trục niệm lai.
Tạm dịch :
       Mỗi đóa hoa sen mỗi thánh thai
    iệm Phật thành tựu hoa tự hé
       Muốn thân như ngọc tùy thân thiện
       Mọi thứ nhu cầu như ý.
Bài kệ sau là bài kệ mà trong nhà Phật mà người niệm Phật thường đọc tụng, dùng 
để hồi hướng công đức niệm Phật của mình.
8. Hóa sanh trong hoa sen
Khi một người duyên đời đã hết, người thế gian gọi là chết ; Phật giáo gọi là vãng
sanh. Ý của chết là nói người này không còn nữa, không còn tồn tại nữa. Vãng 
sanh thì khác, vãng sanh hoàn toàn không phải là chết, mà chỉ từ chỗ này đến chỗ
kia thôi.
   Ví dụ ; Từ Cửu long đến Hồng Kông, từ Hồng Kông đến Đài Loan, đến Quảng
Châu. Đây chỉ là nói người chủ này đổi khu vực, đổi nơi ở, cũng giống như
chuyển nhà, đổi nhà vậy, từ chỗ nhà cũ này dọn chuyển đến nhà mới khác mà thôi.
   Không đúng sao ? Mỗi cơ thể này của chúng ta cũng được gọi là áo sắc thân, vì
nó có hình có sắc như chiếc áo bên ngoài vậy. Cũng giống như một cái nhà, mình
ở lâu rồi thì nhà cửa tự nhiên sẽ trở nên cũ kỹ, dột nát, lúc này người chủ liền
muốn đổi nhà mới thôi.
Vãng sanh chính là từ thế giới dơ bNn này của chúng ta hóa sanh vào hoa sen,
đến thế giới Cự Lạc thanh tịnh, đổi qua một thế giới mới, đổi qua ngôi nhà mới
vậy.
 Trợ niệm vãng sanh chính là thay chủ nhân sắp qua đời, sắp xếp việc dọn nhà,
từ ngôi nhà cũ tiễn đưa họ đến ngôi nhà mới. Đây hoàn toàn không phải việc buồn
rầu, mà là việc đáng vui mừng.
Buồn rầu là tình cảm của người phàm, vui mừng là tình cảm của người có đạo.
Lúc thường người ta thường hay chỉ vào cơ thể này của mình và gọi đó là Ta,
vậy là sai rồi. Cơ thể này hoàn toàn không phải là Ta, mà là cái của Ta ! N ó là
một thứ công cụ để cho ta sai bảo. Tiwj tánh thanh tịnh của mỗi người mới là Ta
thật, những thứ mà cái Ta thật này dùng, dùng xong rồi, hoặc dùng hư rồi , thì
phải thay cái mới thôi.
Trợ niệm tiễn người vãng sanh chính là muốn cho bạn hóa sanh trong hoa sen,
đổi qua một cái mới.
Điều kiện đơn giản của vãng sanh là nương vào công phu niệm Phật thường
ngày của bạn và công phu trợ niệm của đại chúng lúc lâm chung, lại thêm nguyện
lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà. Ba duyên ấy đầy đủ thì nhất định vãng sanh không
nghi ngờ !
Một vị đại đức đến bệnh viện Phật giáo dưỡng bệnh, nằm viện không bao lâu thì
tự biết duyên đời đã hết, sắp đến vô thường, dự báo dặn dò trước bạn bè thân hữu
đến trợ niệm giúp. Bản thân ông thường ngày cũng có tu dưỡng tướng đối khá,
đối với tình đời xem nhẹ, buông xả được. Kết quả, lúc trợ niệm, thần trí ông
không mê mờ, hồi quang phản chiếu, liễu ngộ vô sanh. Lúc sắp ngưng thở còn để
lại bốn câu kệ : 
                          Sắc không câu bất trước
                          Hiển hiện cổ gia hương
                          Di Đà nhập ngã tánh
                          Tánh nhập vô lượng quang.
Tạm dịch :
                          Sắc không đều chảng dính
                          Hiện rõ chốn quê xưa
                          Di Đà nhập tánh ta
                          Hòa vào vô lượng quang.
N ói kệ xong bèn nhắm mắt, buông tay vãng sanh.
Con người chết vốn là chuyện buồn thương, nhưng người bệnh này qua đời lại 
khiến cho người ở trong buông thương ngược lại lại sinh tâm thấy hiếm có, tâm 
hoan hỷ, tâm tán thán. Vì đời người sớm muộn gì cũng như thế cả ! Chẳng thà ra
đi một cách an tường tự tại chứ đừng ra đi mà rên la đau khổ.
Các vị thiên tri thức ! Đây là việc rất thiết yếu có liên quan đến bản thân chúng
ta, bạn đồng ý với quan điểm này chứ ! Trân trọng chúc phúc ! 
 TẠI SAO PHẢI LÀM PHẬT SỰ
( Pháp sư Thánh Nghiêm)
Lời Nói Đầu
Qúy vị vì nhân duyên muốn chu tất cho việc lâm chung và có cái nhìn xa, muốn 
báo đáp ơn của người thân, hoặc là để siêu độ người trong gia đình, kỷ niệm bạn
cũ, hoặc là vì muốn gieo trồng phước đức để được sống lâu, tiêu tai miễn nạn
v.v…, mà làm công việc Phật sự long trọng trang nghiêm. Qúi vị đã tiêu tốn rất
nhiều tiền của và sức người nhằm thành tựu việc làm tốt đẹp ấy. N hưng ý nghĩa
đích thực của làm Phật sự, quí vị đã hoàn toàn hiểu rõ chưa ? Xin quí vị hãy đọc tỉ
mỉ cuốn sách nhỏ này, như thế thì việc làm Phật sự của bạn sẽ càng có ý nghĩa
hơn, càng có công đức hơn. Vì ở trong đây sẽ giới thiệu cho bạn định nghĩa của
Phật sự, tác dụng của Phật sự, vấn đề của người chết, tính chất của vong linh, và ý
nghĩa của việc tụng kinh, sám hối , thí thực v.v…
Sao gọi là Phật sự ?
N ói theo nghĩa rộng,phàm là làm những việc cho người ta tin Phật, cầu Phật,
thành Phật, đều gọi là Phật sự. Phật nói mọi người ai cũng đều có khả năng thành
Phật, chỉ cần bạn tin và nương theo phương pháp thành Phật mà Phật đã nói, thực
hành đúng như pháp, thì nhất định tương lai sẽ thành Phật. Cho nên phạm vi của
Phật sự có hẹp có rộng, gọi là Phật pháp vô biên. Phương pháp thành Phật theo
nghĩa rộng là rất nhiều, nhiều không sao kể hết. Ví dụ, lạy Phật, niệm Phật,làm
việc thiện, dùng các việc ác, nói những lời Phật nói, làm theo những hạnh Phật đã
làm. Phải làm cho được ‘‘ Giữ tất cả tịnh giới, không có tịnh giới nào mà không
giữ ;tu tất cả thiện pháp, không có thiện pháp nào mà không tu, độ tát cả chúng
sanh, không có chúng sanh nào mà không độ’’. Hay nói cách khác, tức là ‘‘Chớ
làm các điều ác, vâng làm các việc lành’’. Cũng chính là tích cực tự cứu mình,
còn phải tích cực cứu người.
Vì Phật giáo chủ trương thành Phật phải bắt đầu xây dựng từ nhân cách hoàn mỹ,
cho nên trước hết phải khuyên người ta không sát sanh, không trộm cắp, không tà 
dâm, không nói dối, không uống rượu và những chất gây nghiện. Điều này rất gần
với nhân, lễ , nghĩa, trí, tín- ngũ thường của nhà N ho. Tiến thêm một bước, muốn
con người thoát khỏi vị trí phàm phu để tiến lên làm thánh nhân. Thánh nhân mà
trong Phật giáo nói là chỉ người đã giải thoát khỏi những thứ khổ não của thế gian,
ví dụ như sinh và tử, già và bệnh v.v… Cảnh giới sau khi giải thoát những thứ
khổ não này chính là mục đích của Phật giáo.
Làm thế nào đạt đến mục đích giải thoát khổ não sinh tử ? Thê sthif phải tin và
làm theo phương pháp mà Phật đã nói, dựa theo đó mà làm. Đọc kinh, tụng kinh,
nghe chính kinh chính là đọc, tụng, nghe phương pháp giải thoát sinh tử, thậm chí
thành Phật. Cho nên Phật sự chân chính là mọi người phải tự mình làm.
N hưng đối với những người không hiểu Phật pháp, không biết tu hành, khi gặp
phải cha mẹ thân hữu của họ chết, trong lúc không có cách nào giải quyết, thì chỉ
có mời người xuất gia đến thay họ làm Phật sự, đúng là cũng có tác dụng. Phật sự 
mà trong bài văn này nói, phần lớn là nói rõ nghiêng về loại phương diện mang
tính nghãi hẹp này.
 Mời người xuất gia làm Phật sự có tác dụng gì ?
N gười xuất gia là người tu trì Phật pháp, cũng là người hoằng dương Phật
pháp,là người theo nghề nghiệp tu hành, cũng là người theo nghề nghiệp hoằng
pháp. Vì Phật sự mà họ làm là có công đức cho người và bản thân. Bạn cung cấp
nhu cầu đời sống cho họ để họ yên tâm làm Phật sự, thì bạn cũng có công đức một
cách gián tiếp. Cho nên Phật nói tăng ni xuất gia là phước điền công đức cho mọi
người.
Vốn dĩ chức trách của người xuất gia là hoàn toàn không phải chuyên làm những
việc siêu độ cho vong linh, thậm chí có thể nói, đối tượng chủ yếu mà người xuất
gia phải siêu độ là người sống chứ không phải người chết. Tuy nhiên người tu
hành Phật pháp, quả thật xem trọng pháo môn cứu vãn lúc lâm chung.
 Lúc sắp mạng chung phải làm thế nào ?
   Con người lúc vừa chào đời là đã gắn liền vận mệnh với cái chết. Cho nên, tình
cảnh sống chưa chắc là đáng vui, tình cảnh chết chưa chắc là đáng buồn. N ói theo
Phật pháp, nếu không ra khỏi sanh tử thì đều là những người đáng thương cả !
 Do đó, người tin Phật, học Phật, Phật sự hay làm thường ngày, lúc sắp mạng
chung sẽ đắc lực nhất. Thường ngày tu hành có chất lượng, sau khi mạng chung
sẽ chắc chắn có thể thoái khỏi cõi trần sanh tử, vãng sanh về cõi Phật Tịnh Độ.
Con người sau khi chết sẽ đi về đâu ? Có ba loại sức mạng đến quyết định sự đi
lên hoặc đi xuống của họ :
1. Theo nghiệp nặng mà đi. Đi theo nghiệp nặng nhât strong các nghiệp thiện
ác mỗi người đã tạo, đi thọ báo trước.
2. Theo tập khí mà đi. Tức là theo tập khí nào đó của mỗi người thường ngày
khó bỏ nhất, thì trước tiên nó sẽ dẫn dắt đi đầu thai trong môi trường cùng
loại.
3. Theo niệm mà đi.Tức là tùy theo ý nghĩ hướng về của mỗi người lúc sắp
mạng chung mà đi thọ snah trong lục đạo, hoặc sanh về cõi Phật Tịnh Độ.
Do nguyên nhân như thế nên Phật giáo chủ trương mọi người phải chớ làm các
điều ác, vâng làm các điều lành, và cần phải chừa bỏ những thói quen không tốt,
nên chú trọng tâm niệm thường ngày, thậm chí niệm niệm không quên tam bảo
Phật pháp tăng, niệm niệm phải đem  tất cả công đức mà mình đã tạo làm vốn 
và hành trang để vãng sanh về cõi Phật Tịnh Độ.
 Công phu học Phật chủ yếu là dựa vào sự tu hành thường ngày, quy y tam bảo,
thọ trì ngũ giới, cúng dường bố thí, sám hối tụng kinh, cứu giúp nghèo khổ và
bênh tật, tạo phước cho xã hội. Giả như lúc thường không có thâm nhập Phật
pháp, lúc sắp mạng chung vẫn còn có một đường cứu vãn, đó chính là đạo lý
của niệm Phật vãng sanh. Khuyên họ nhât stama niệm Phật, khuyên họ buông
xả mọi niệm, dứt khoát không nên sợ chết, dứt khoát không nên tham luyến bạn
bè người thân quyến thuộc trong gia đình và sản nghiệp của cải, dứt khoát
không nên hoang mang rối trí, cần phải nhât stama niệm Phật, niệm N am Mô A
Di Đà Phật. N ếu như không có sức niệm thành tiếng thì co thể niệm thầm trong
tâm, nếu như người thân thuộc của họ thật sự thương yêu họ thì không nên khóc
lóc lớn tiếng trong lúc hấp hối,làm như thế chỉ có khiến họ tăng thêm khả năng
đau khổ và bị đọa. Vả lại phải khuyên mọi người cùng nhau niệm Phật, để cho 
tâm niệm của người lâm chung được hòa quyện vào trong tiếng niệm Phật khNn
thiết thành kính của mọi người. N ếu làm được như thế thì sau khi chết ngay đó
có thể vãng sanh về cõi Phật Tịnh Độ. N ếu như số mạng của họ chưa hêt tshif
cũng có thể nhờ vào công đức niệm Phật đó khiến họ được khỏe mạnh trở lại
sớm hơn, phước thọ được tăng trưởng.
Con người sắp mạng chung, hoặc ngồi hoặc nằm, hoặc nằm nghiêng hay nằm
ngửa, đều phải để cho tự bản thân họ cảm thấy thoải mái là tốt nhất. N êu skhi đã
hôn mê nhưng vẫn chưa tắt thở, thì dứt khoát không nên thấy họ tiểu tiện dính
bNn trên người liền đem đi tắm rửa hoặc lau chùi, để tránh tăng thêm đau khổ
giận dữ phiền não cho họ mà ảnh hưởng đến đường đi sau khi chết. Sau khi chết,
tuy đã tắt thở, chỉ cần còn thấy có một chút hơi ấm, thì thần thức của họ vẫn
chưa thoát khỏi thể xác, vì vậy phải sau khi trải qua 8 giờ thì mới có thể tắm rửa
thay đồ cho họ. N ếu như thiêu, thì tốt nhất là sau khi trải qua 24h giờ.
 N gười sau khi chết, nếu không thoát khỏi phàm để nhập vào thánh, nói theo
thông thường là trở thành vong linh.
Vong linh là gì ?
N ói đến siêu độ vong linh thì trước tiên phải nói rõ tính chất của vong linh. Chủ
thể mạng sống của con người sau khi chết gọi là vong linh. Quan niệm dân gian
thông thường cho rằng, con người sau khi chết thì biến thành quỷ, hơn nữa vĩnh
viễn làm quỷ. Phật giáo chúng ta dứt khoát không tiếp nhận quan niệm như thế,
nếu không thì không nên bàn đến hai chữ siêu độ làm gì cho phí sức. Phật giáo
thấy chúng sanh trong cõi phàm, tổng cộng phân thành sáu loại lớn như : trời,
người, thần, quỷ, bàng sanh ( những động vật trâu ngựa cho đến muỗi kiến), địa
ngục. Sinh ra chết đi, chết đi rồi sinh lại trong sáu loại ấy gọi là lục đạo luân hồi.
Cho nên, con người sau khi chết chỉ có 1/6 khả năng là biến thành quỷ. Phật
giáo làm cho con người vượt qua và độ thoát khỏi sanh tử lục đạo luân hồi này
nên gọi là siê độ.
   N hưng phàm phu sau khi chết, trừ người có tội ác cực nặng thì lập tức đọa địa
ngục, người có công đức thiện cực nhiều thì lập tức lên cõi trời hoặc thoát ra
khỏi lục đạo. N gười bình thường thì hoàn toàn không thể chuyển sanh lập tức
được. Vong linh đến chuyển sanh không phải là quỷ, cái đó trong Phật giáo gọi
là ‘‘Thân trung hữu’’ hoặc là ‘‘Thân trung ấm’’, tức là một loại thân chuyển tiếp
giữa quá trình sau chết đến chuyển sanh. Thân trung ấm này thường hay bị 
người đời gọi lầm là hồn ma, kỳ thực nó là một loại linh chất nương nhờ vào thể
khí nhỏ bé để tồn tại, hoàn toàn không phải là hồn ma.
   Thời gian của thân trung ấm thông thường là 49 ngày. Trong giai đoạn này là
đang chờ đợi cơ duyên chuyển sanh chín muồi. Cho nên, trong khoảng thời gian
49 ngày sau khi chết, bạn bè người thân làm Phật sự cho họ là có hiệu quả tác
dụng rất lớn. N ếu dùng những tài vật yêu thích nhất của người chết lúc còn sống
đem đi cúng đường bố thí, cứu giúp người bệnh khổ nghèo vượt khó và nói đây
là công đức làm vì người chết nào đó được siêu sanh, thì người chết lập tức có
thể nhờ đó mà đầu thai vào cõi tốt đẹp hơn. Cho nên Phật giáo chủ trương siêu
độ vong linh tốt nhất là trong vòng 49 ngày. N ếu như đã qua sau 49 ngày mà
còn làm Phật sự, thì đương nhiên vẫn còn hựu dụng, nhưng đó chỉ có thể làm
tăng thêm phước phận của họ, chứ không thể thay đổi chủng loài mà họ đã sanh
vào. Giả như một người ở đời tạo ác rất nhiều, nhất định đời sau phải làm trâu 
hoặc làm heo, trong khoảng 49 ngày sau khi họ chết, nếu như có bạn bè người
thân làm Phật sự lớn chp họ và khiến họ trong khoảng giai đoạn thân trung ấm
nghe được người xuất gia tụng kinh, vì thế mà biết được những đạo lý của Phật
pháp, ngay đó hối lỗi, lập ý hướng thiện, thì họ liền có thể tránh được việc đi
làm trâu làm heo mà sinh trở lại làm người. N ếu như sau khi họ đã sinh vào loài
trâu loài heo rồi mà còn làm Phật sự cho họ, thì đó chỉ có thể cải thiện môi
trường sống của loài heo hoặc trâu mà thôi, khiến chúng có thức ăn đầy đủ,
không phải làm việc vất vả, thậm chí tránh được nạn khổ bị xẻ thịt, được người
phóng sanh. N ếu đã sanh vào cõi người thfi có thể khiến họ được khỏe mạnh,
bạn bè người thân yêu quý giúp đỡ, sự nghiệp thuận lợi. N ếu đã sanh về thế giới
Tây Phương Cực Lạc thì có thể khiến cho cấp bậc phNm vị hoa sen của họ được
lên cao, sớm thành Phật.
Ai cần làm Phật ?
      N gười bình thường cho rằng, làm Phật sự là việc của tăng ni xuất gia. Kỳ
thực, nói vậy chỉ đúng có một nửa. Vì người xuất gia đương nhiên phải làm
Phật sự, nhưng nếu như bạn muốn có được sự thọ dụng của Phật pháp thì cũng
cần phải tự mình làm Phật sự, nếu việc gì phải đợi đến sau khi chết để bạn bè
người thân làm Phật sự giúp bạn, sao không nhân lúc còn sống tự mình làm đi ?
     Đối tượng siêu đọ của Phật pháp chủ yếu là người sống, nếu như thường
ngày không tu hành, đợi sắp chết mới ôm chân Phật, công hiệu tuy cũng khả
quan nhưng không bằng thường ngày có sự thực hành chuNn bị thì chắc chắc
hơn. N ếu như bản thân mình không làm Phật sự, sau khi chết được thân hữu
mời tăng ni đến làm thay, thì công hiệu tự nhiên bị giảm đi hết hai phần. Cho
nên, trong Kinh Địa Tang Bổn N guyện Công Đức nói : N ếu do người sống siêu
độ cho người chết thì người chết chỉ có thể hưởng được trong đó 1/7 công
đức,sáu phần công đức còn lại thuộc về người sống làm Phật sự.
    Do đó, tôi muốn khuyên bạn, bạn đã đến chàu thỉnh người xuất gia đi làm
Phật sự thì chắc chắn là đã có ý tôn kính đối với Phật giáo. N ếu như vẫn chưa
quy y Phật giáo, thì hoan nghênh bạn nên sớm quy y, sau khi quy ý rồi, từ từ
hiểu Phật pháp, tu hành như pháp, há không tốt hơn sao ?
Bnạ đến thỉnh tăng ni đi làm Phật sự là để siêu độ cho thân hữu của bạn, hoặc
để an ủi một chút về lòng thương nhớ của bạn đối với bạn bè người thân đã quá
cố, cho nên người chủ động làm Phật sự này chính là bạn. Phật pháp coi trọng 
thành tâm, có thành tâm tức có hiệu ứng. N gười xuất gia tụng kinh sám hối,
đương nhiên là phải làm thật chí thành khNn thiết, cái tâm mà bạn đến mời họ
tụng kinh sám hối cũng phải vô cùng thành kính, phải tin thật sâu vào Phật sự
họ đã làm, thì chắc chắn có thể khiến cho người chết hưởng được lợi ích rất lớn.
 Phật pháp coi trọng cảm ứng, động lực cảm ứng chính là tâm chí thành, thành
ý sâu hay cạn có thể quyết định cảm ứng lớn hay nhỏ. Giống như người đánh
chuông, nếu đánh thật mạnh thì tiếng kêu sẽ lớn, nếu đánh nhẹ thì tiếng kêu sẽ
nhỏ.
 Do đó, cùng làm Phật sự giống nhau nhưng hiệu quả đạt được là do dự khác
nhau của thành tâm mà có lớn nhỏ không giống nhau. N guyên nhân của Phật
giáo chủ trương mọi người hãy tự mình làm Phật sự cũng bắt đầu từ đó, gọi là
‘‘ N gười nào ăn người ấy no, sinh tử của người nào thì người ấy tự dứt’’. N ếu
như do người khác làm Phật sự thay thì sự thọ dụng sẽ kém đi rất nhiều, chẳng 
may tự mình chưa kịp tin Phật, học Phật mà qua đời, thì nhờ người thân có quan
hệ huyết thống làm thay là tốt nhất, gọi là mẹ con thì tâm thường tương thông,
lúc còn sống dễ dàng cảm ứng với nhau, sau khi chết giữa người thân tình với
nhau cũng dễ phát khởi tâm chí thành khNn thiết nhất. Cho nên Bồ Tát Địa Tạng
trong kiếp quá khứ rất lâu xa, đã từng bao lần làm người con gái hiêu sthaor,
mỗi lần mẹ mình mất đều dùng tâm chí thành làm Phật sự, lạy Phật, cúng
Phật,niệm Phật, cầu Phật, cảm được sự chỉ dẫn của các La Hán hoặc Phật mà
khiến mẹ mình được siêu độ.
 N ếu như không có người ruột thịt chí thân, hoặc giả không phải ruột thịt chí
thân, thì người có quan hệ với người đã chết lúc còn sống sẽ dễ dàng phát khởi
tâm thành kính, càng dễ phát sinh ra hiệu quả cảm ứng hơn người không có
quan hệ gì cả.
 Vì thế, tôi muốn kính khuyên bạn, không nên đến chùa lễ thỉnh tăng ni làm
Phật sự, vì người trung tâm của việc làm Phật sự là bạn và bạn bè thân thích của
gia đình bạn, chứ không phải tăng ni, tăng ni làm Phật sự là thời khóa thường
ngày của họ, bạn làm Phật sự là để siêu độ cho vong linh bạn bè thân thích của
bạn. Dựa theo ý mà nói, bạn và bạn bè người thân trong gia đình bạn đều cần
phải tham gia tingj kinh sám hối. N ếu như không biết thì chí ít trong những
ngày này nên trai giới tắm rửa sạch sẽ, loại bỏ các món tanh và dâm dục,
chuyên niệm N am mô A Di Đà Phật.
Tụng kinh để làm gì ?
Kinh Phật à do Phật nói ra, đây là phương pháp tin Phật, học Phật cho đến
thành Phật. Phương pháp thì vô biên, cho nên số lượng và tên gọi của kinh Phật
cũng rất nhiều. Ở chỗ chúng ta đây, thích hợp và thông dựng nhất có những
kinh như : Kinh Hoa nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
N guyện Công Đức, Kinh Dược Sưu Lưu Ly Quang N hư Lai Bổn N guyện Công
Đức, Kinh Kim Cang Bát nhã Ba La Mật, Kinh Phật thuyết A Di Đà, Tâm
Kinhv.v…
  N guồn gốc của tụng kinh có từ thời Phật Thích Ca ở Ấn Độ. Do kinh Phật
thời ấy không có in ấn, cũng không dùng ghi chép, đều phải dựa vào sự truyền
miệng, miệng miệng truyền nhau, cho nên nếu nghe các đệ tử của Phật thay
Phật thuyến pháp, thì thường thường là nghe họ đem kinh Phật đã từng nghe và
đã thuộc lòng ra đọc lại. Bản thân mình nếu muốn thuộc lòng một bộ kinh Phật 
nào đó, thì cũng phải ra sức tụng cho thuộc. Sau này, tụng kinh đã trở thành
công việc cơ bản của học Phật pháp và tuyên truyền Phật pháp.
  N hưng đệ tử Phật vì sao phải đem một bộ kinh nào đó, sua khi đã tụng thuộc
nhão rồi, còn phải tụng hết lần này đến lần khác trược tượng Phật nữa vậy ?
Điều này có hai lý do :
   Lý do thứ nhất là xem kinh Phật là chiếc gương tiêu chuNn để giám sát tâm
hạnh của mình. Vì phàm phu khó đảm bảo mình không phạm sai lầm,khi đã
phạm sai lầm vẫn không thể biết lỗi sửa lỗi, nhưng khi đối diện trước tượng
Phật, miệng tụng kinh Phật, thì cũng giống như được nghe thuyết pháp giáo giới
thiệu cho chúng ta từ chính kim khNu của Phật vậy, khiến chúng ta luôn luôn
sách tấn tu hành. Đã phạm lỗi lầm thì mong chóng sửa chữa, còn như chưa
phạm lỗi lầm thì mau chóng sửa chữa, còn như chưa phạm lỗi lầm thì quyết tâm
không phạm, những công đức lành đã tu thì nỗ lực tăng thêm, còn như công đức 
lành chưa tu thì lập chí tu. Điều này cũng giống như phụ nữ thích đẹp vậy, trong
khuê phòng có chiếc gương soi, khi đi ra ngoài cũng phải mang theo chiếc
gương bên mình, sáng soi gương, ngẫu nhiên sau mỗi đọng tác lại muốn soi
gương tiếp, hôm nay đã soi gương, ngày mai, ngày mốt, ngày kia, thậm chí năm
tới, năm tới nữa, vẫn phải soi gương. Đó chỉ là vì muốn giữ gìn hoặc tăng thêm
vẻ đẹp gọn gàng sạch sẽ trên gương mặt của cô ta mà thôi.
  Thứ hai là lấy tụng kinh làm sứ mệnh thiêng liêng thay Phật thuyết pháp. Đói
tượng chủ yếu của Phật pháp là con người, ngoài con người ra , chúng sanh
trong lục đạo còn có trời, thần, quỷ và số ít bàng sanh hoặc súc sanh ( động vật)
cũng có thể tin nhận Phật pháp. Cho nên , tuy ở chỗ không có người, hoặc ở chỗ
mà người nghe không hiểu nghĩa kinh đã tụng, chỉ cần có người tingj kinh liền
có trời, thần ,quỷ, súc sanh những loài khác đến nghe chúng ta tingj kinh. Ba
loại chúng sanh trời, thần, quỷ và một bộ phận bàng sanh đều có thần thông
hoặc nhiều hoặc ít, khi chúng ta tụng kinh, chỉ cNn chuyên chú thành tâm, thì
tức khắc có thể cảm ứng họ đến nghe kinh. N ếu như bạn làm Phật sự tụng kinh
cho bạn bè người thân của bạn đã mất, thành ý của bạn vừa khởi, thì vong linh
của bạn bè người thân đó của bạn liền nhận được tin tức, chắc chắn  sẽ đến nghe
kinh đúng lúc. Linh Tánh của vong linh rất cao, dù cho lúc còn sống chưa từng
nghe một câu Phật pháp nào cả, nhưng sau khi chết mà được nghe kinh, thì cũng
có thể nương theo thiện căn ấy liền thông suốt và tin nhận.
Bái sám để làm gì ?
   Bái sám, còn gọi là lễ sám, tức là lễ bái chư Phật Bồ tát, sám hối tất cả tội
nghiệp của mình.
   Lời nói hành động của phàm phu, nếu như đem ra khảo sát thật sâu sắc tỉ mỉ
thì có thể nói là thường đang phạm tội tạo nghiệp. Sự sanh tử luân hồi của phàm
phu là do nghiệp lực của mỗi người đã tạo dẫn dắt. N ếu như trong đời quá khứ
chưa từng tạo tội nghiệp,  thì hiện nay sẽ không còn làm phàm phu nữa. N ếu
như đời này đã dứt trừ tất cả tội nghiệp, thì đời sau sẽ là cảnh giới của thánh
nhân.
 Phàm phu là rất khổ não. Đối với những tội nghiệp từ đời trước mang lại thì
cũng đành chịu, đối với những tội nghiệp đã tạo trong đời này ucngx phải đành
bó tay, từ nay về sau nếu muốn không tiếp tục tạo tội nghiệp nữa thì vẫn hoàn
toàn không có khả năng. Vì thế, Phật Đà vĩ đại của chúng ta, đã nói ra pháp môn 
sám hối tội nghiệp.
 Tụng kinh, như đã nói phía trước, là để chúng ta soi vào trong chiếc gương 
Phật pháp. Bây giờ nói sám hối là dạy chúng ta đem tâm của mình vào trong
nước Phật pháp để rửa. Công dụng của bái sám tức là nhằm chùi rửa cái tâm tội
lỗi dơ bNn này của chúng ta.
 Cho nên sám hối trước Phật là hoàn toàn không phải xin Phật xá tội, mà là cầu
Phật chứng minh, hướng về Phật bộc bạch tội nghiệp mình đã tạo, hạ quyết tâm
không cố ý làm ác nữa. Không tạo tội với người nữa gọi là sám, nhận lỗi lầm
của mình gọi là hối ; Phật Bồ Tát vĩ đại từ bi và thanh tịnh viên mãn như thế,
Phật Bồ Tát hy vọng chúng ta cũng trở thành thánh nhân thanh tịnh viên mãn và
vĩ đại từ bi, nhưng chúng ta vẫn cứ trôi lăn trong tội nghiệp tự làm tự chịu, cho
nên phải sám hối. Tác dụng bái sám của chúng ta, tức là chùi rửa tâm tội nghiệp
của mình, giống như đãi vàng trong cát, dần dần loại bỏ cát đi thì còn lại vàng 
vậy. Chúng ta bái sám trước Phật thì dần dần sẽ sám trừ được tội lội và sẽ được
tâm thanh tịnh giải thoát.
 Các loại nghi thức sám hối ở Trung Quốc là do rất nhiều tổ sư căn cứ vào kinh
Phật biên tập thành, thịnh hành nhất là Lương Hoàng Sám, Tam Muội Thủy
Sám, Đại Bi Sám, Dược Sư Sám, Tịnh Độ Sám, Địa Tạng Sám, Thiên Phật Sam
v.v…N gười tu theo những cách thức sám hối này, từ xưa đến nay đều có rất
nhiều linh nghiệm và được nghi chép truyền lại, đích thực có thể gọi là không
hề uổng công.
Bái sám tốt nhất đương nhiên là tự chính bản thân bạn làm, nếu như bạn chưa
biết, hoặc giả cảm thấy lạy chưa đủ nhiều, thì lễ thỉnh tăng ni đên slamf, hoặc
làm thay cho bạn bè người thân đã mất của bạn thì đương nhiên cũng có công
đức. Đạo lý trong đó cũng giống như tụng kinh vậy.
Phóng diệm khNu( cúng thí thực) để làm gì ?
  Diệm khNu là chỉ quỷ đói trong cõi quỷ. Chúng sanh trong cõi quỷ chia làm
ba loại : (1)Một là khi còn sống đã làm rất nhiều việc thiện, nếu đầu thai vào
làm quỷ thì sẽ thành quỷ có phước đức giàu có và sức mạnh lớn. N gười thường
tin vào những quỷ thần như thành hoàng thổ địa là thucocj vào loại quỷ thần này.
(2) Hai là lúc còn sống làm việc thiện không nhiều, thì biến thành quỷ ít của
cải, phước mỏng thiếu lực, quỷ mà người thường tin, hơn một nửa chính là loại
này ; (3) Ba là khi còn sống bủn xỉn tham lam keo kieetjj, một xu cũng không
muốn mất, chuyên muốn lợi về mình, nếu sanh làm quỷ thì sẽ thành quỷ đói
không có phước, không có lực. Trong loại cô hồn ngạ quỷ mà người bình
thường hay nói, tức có quỷ đói. Loại quỷ này cái bụng cực to mà cổ thì cực nhỏ,
tuy có đồ ăn trước mặt đó cũng khó thể nào no bụng được, huống hồ do có quan
hệ với nghiệp báo, chúng rất khó nhìn thấy thức ăn, dù cho có được thức ăn ưa
thích đó, nhưng sau khi cho vào miệng thì biến thành máu mủ tanh hôi dơ bNn.
Cho nên họ thường bị đói cồn cào như bị thiêu trong bụng, lửa giữ tuôn ra tiwf
miệng, nên gọi là Diệm khNu.
 Đức Phật từ bi đã nói ra rất nhiều loại thần chú, ví dụ như tịnh nghiệp chứng
chân ngôn, biến thực chân ngôn, khai yết hầu chân ngôn v.v… Phàm là khi y
theo pháp tụng trì những chân ngôn thần chú này thì các quỷ đói được mời đến,
liền có thể nương theo thần nguyện lực của Phật mà được một bữa no. Sau khi
được ăn nó rồi, mới vì chúng mà tuyên dương Phật pháp, khuyên chúng quy y 
Phật Pháp Tăng tam bảo, truyền thọ giới Tam Muội Da Mật cho chúng, vĩnh
viễn thoát khỏi khổ não của cõi quỷ. Đây chính là mục đích và tác dụng của
phóng diệm khNu.
 Vì thế, phóng diện khNu đối với cõi quỷ mà nói, tương đương với việc cứu
giúp không hạn chế, cho nên còn gọi là thí thực. N ếu như bạn  bè người thân đã
mất của bạn hoàn toàn chưa đọa vào cõi quỷ đói, thì phóng diệm khNu cũng
giống như đã giúp họ làm việc công đức cứu giúp khổ nạn, cho nên cũng là hữu
dụng.
Phật sự giữu người và quỷ
N gười bình thường hay lầm cho rằng làm Phật sự là nghi thức đặt ra chỉ để cho
quỷ chết. Vì thế tôi muốn nói với bạn một lần nữa rằng : đối tượng của Phật
pháp là vì người sống chứ không phải vì quỷ chết. Việc siêu độ cho vong linh là 
một biện pháp bổ sung cứu chữa, chứ không phải là công việc chính của Phật
giáo.
Cho nên làm Phật sự nên làm lúc còn sống, người chết rồi đương nhiên phải
làm Phật sự. N hững việc như kết hôn, sản xuất, gặp nạn, trừ bệnh, chúc thọ,
mưu cầu chức vị, khai trương, giao dịch, xấy cất, an cư, buôn bán v.v…cũng
đều cần phải làm Phật sự. Tu công tích đức,làm phước hành thiện, làm Phật sự
như thế lẽ nào chỉ để độ vong linh thôi sao ? Phật pháp có thể tạo nên phước
hiện đời, có thể tạo nên phước cho đời sau, có thể tạo nên quả phước thế gian
giàu có cho trời người, đặc biệt có thể tạo nên Phật quả cứu cánh phước trí viên
mãn.
Tập tục dân gian cho rằng tụng kinh sám hối có thể cơi như tiền cho hồn quỷ ở
âm gian dùng, lại đốt vàng mã và tiền âm phủ để cho hồn quỷ ở âm gian thêm
giàu có. Kỳ thực, trong nhà Phật không có quan niệm này. Tụng linh sám hối là
để siêu độ tăng phước cho người đã chết, người đã chết cũng không chắc là sanh
vào cõi quỷ, chúng sanh trong cõi quỷ cũng không dùng được tiền của người thế
gian cho họ, tiền chỉ là vật môi giới mua bán của người thế gian. Đốt vàng mã
cũng chỉ là phong tục dân gian của Trung Quốc khoảng từ thời Hán Đường lư
hành đến nay mà thôi.
 N gười sau khi chết nếu không giải thoát sanh tử, thì cũng chỉ có 1/6 khả năng
là sanh vào cõi quỷ, cho nên xin bạn không nên xác định bạn bè người thân của
bạn sau khi chết sẽ biến thành quỷ. Bạn nên dùng tâm thành kính cầu nguyện
Phật pháp gia hộ, gia hộ cho bạn bè người thân của bạn đã qua đời được siêu
sanh về thế giới Cực Lạc, chí ít cũng mong cho họ được sanh vào cõi người
hoặc sanh vào cõi trời mới đúng.
 Ở Trung Quốc thường hay có phong tục, tức là người qua nam sau khi chết
phải làm Phật sự là ‘‘ Cầu qua sông’’ hoặc ‘‘Phá địa ngục’’ ; N gười nữ sau khi
chết thì làm Phật sự ‘‘Phá huyết hồ’’. Điều này trong Phật pháp cũng không có
căn cứ. Phật giáo không cho rằng con người sau khi chết ắt sẽ đọa địa ngục, sao
phải nhất định muốn dẫn vong linh người mới chết đến những nơi như ‘‘N ại
Hà’’ và ‘‘Huyết hồ’’ trong địa ngục cơ chứ ?
 Cho nên tôi muốn kính khuyên người đọc bản văn này, cần phải tự mình đi
làm Phật sự, và phải hiểu rõ vì sao phải làm Phật sự ? Và Phật sự là gì ? 
                             
KỆ HỒI HƯỚNG 

Nguyện đem công đức này
Trang nguyên nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ ba đường 
N ếu có người nghe thấy
Đều phát tâm Bồ Đề
Đồng Sanh cõi Cực Lạc ?
 
Nam Mô A Di Đà Phật 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về NukeViet 3?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây