Để hiểu thấu hành đúng pháp hộ niệm

Thứ tư - 26/06/2019 07:23
Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm 
Mục Lục:

 
1. Duyên khởi:  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang   03
2. Lời tri ân: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . trang   06
3. Chương 1 Tổng quát về hộ niệm: . . . . . . . . . . trang   09
4. Chương 2: Người bệnh và vấn đề hộ niệm: . . . trang   36
5. Chương 3: Nhận thức về hộ niệm: . . . . . .  . . .  trang   65
6. Chương 4: Gia đình người bệnh: . . . . . . . . . . .  trang   73
7. Chương 5: Thành viên ban hộ niệm: . . . . . . . . trang   92
8. Chương 6: Hướng dẫn khai thị: . . . . . . . . . . . . trang 100
9. Chương 7: Sơ suất khi hộ niệm: . . . . . . . .  . . . trang 129
10. Chương 8: Khế lý- khế cơ: . . . . . . . . . . . .  . . .  trang 157
11. Chương 9: Những điều cần chú ý: . . . . . . .  . . . trang 172
12. Chương 10: Phụ lục: . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . trang 187










 
2
 

Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm 

Duyên khởi!... 
 
Lần đầu tiên Diệu Âm tận mắt chứng kiến một người
được hộ niệm vãng sanh mà giựt mình tỉnh ngộ, đứng nhìn
hiện tượng vi diệu mà vui mừng đến rơi nước mắt, cảm động
đến nghẹn ngào!...
Hàng sanh tử phàm phu trong thời mạt pháp này dẫu có
tu hành mà không được hộ niệm thì mấy ai thoát vòng đọa
lạc!... Pháp hộ niệm vãng sanh thật quí hóa thay.
Trong tháng 8/2016, tại pháp hội niệm Phật ở Âu Châu,
Diệu Âm có cơ duyên được bái kiến Thượng Tọa Thích Đức
Thiện, Tổng Thư Ký GHPGVN. Thượng Tọa tuyên dương
pháp môn Niệm Phật, coi trọng pháp Hộ Niệm Vãng Sanh.
Tuy nhiên, trong việc thực hành hộ niệm có nơi làm rất tốt,
có nơi đã xảy ra nhiều điều sơ suất, làm cho pháp hộ niệm bị
hiểu lầm một cách đáng tiếc!... Thượng Tọa khai thị rằng,
chúng ta hãy cố gắng cùng nhau hoàn thiện pháp hộ niệm
vãng sanh, mong cho chánh pháp được lưu trụ dài lâu, đem
lại lợi lạc to lớn cho đại chúng. 
Tâm nguyện cao quý của Thượng Tọa Thích Đức Thiện
đã trở thành nhân duyên sinh ra tập sách nhỏ “Để Hiểu Thấu
Hành Đúng Pháp Hộ Niệm” đang ở trên tay chư vị. Trong
tập sách nhỏ này, Diệu Âm xin nêu ra những điểm chính yếu
của pháp hộ niệm, và cố gắng kết tập nhiều vấn đề thường 
xảy ra đó đây rồi lập ra đáp án, nghĩa là viết dưới dạng “Trắc
Nghiệm Có Đáp Án”, mọi vấn đề nêu ra đều được trả lời
[Đúng] hoặc [Sai] một cách rõ ràng, cụ thể. 
Đáp án [Đúng]: Xin hãy an tâm thực hiện. Đáp án [Sai]:
Có hàm nghĩa rộng như: không thích hợp lắm, không cần
thiết, kinh Phật không nói đến, chư Tổ không khuyên dùng,
không thấy nhắc đến trong các tài liệu hộ niệm... nếu áp dụng
có thể dẫn đến sơ suất, hoặc sai pháp v.v... Xin cẩn thận. 
Mong sao nhiều người hiểu thấu pháp hộ niệm, thực
hành chính xác, chánh pháp được phát huy để cứu nhiều
người vãng sanh Tịnh-Độ. 
Hoàn thành được tập sách này, Diệu Âm xin thành tâm
tri ân đến:
- Tiến Sĩ Bùi Hữu Dược, Vụ Trường Vụ Phật Giáo Việt
Nam, Vị tri thức uyên bác về Phật học, nhiệt tâm ủng hộ
pháp hộ niệm.
- Thượng Tọa Thích Đức Thiện, Tổng Thư Ký
GHPGVN, đã tin tưởng, khuyến tấn và gợi ý tạo nên nhân
duyên hình thành tập sách.
- Tất cả chư Liên Hữu Đồng Tu, Ban Hộ Niệm trong
nước cũng như trên thế giới đã nhiệt tình ủng hộ, sốt sắng
cộng tác biên soạn câu trắc nghiệm, cung cấp thông tin về
tình hình hộ niệm khắp nơi giúp cho dữ liệu thêm phần
chính xác.
- Tất cả chư vị phát tâm ấn tống, gieo rộng duyên lành
vãng sanh Tịnh-Độ. 
Dù đã hết sức cẩn trọng biên soạn, nhưng chắc chắn 
cũng khó tránh khỏi điều thiếu sót. Ngưỡng mong chư Tôn
Phẩm, Thiện Hữu Tri Thức, Liên Hữu, Phật Tử, Đồng Tu...
góp ý xây dựng. 
Nếu tập tài liệu này có chút công đức nào, xin thành tâm
hồi hướng đến tất cả chư vị thân tâm được an lạc, TínNguyện-Hạnh
vững vàng để một báo thân này vãng sanh
thành tựu đạo quả. Hồi hướng đến pháp giới chúng sanh, sau
cùng đều được vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, trọn thành
Phật đạo.
Nam Mô A-Di-Đà Phật.
Diệu Âm (Minh Trị)
(Brisbane, Úc Châu tháng 3 năm 2017)


Lời Tri Ân 
Kính bạch trên chư Tôn Đức, chư Thiện Hữu Tri Thức,
Phật Tử, Đạo Hữu Đồng Tu, cùng các Ban Hộ Niệm khắp
nơi,
Con vô cùng mừng rỡ khi nhận được tập “Để Hiểu
Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm” của Cư Sĩ Diệu Âm.
Công trình biên soạn của Cư Sĩ thật tỉ mỉ. Tập sách được viết
dưới dạng trắc nghiệm [Đúng] và [Sai], giải quyết vấn đề hộ
niệm hết sức cụ thể, vạch rõ cả ưu lẫn khuyết, cả đúng lẫn
sai, phản ánh những thực trạng thường xảy ra khắp nơi về
việc hộ niệm. Phải chăng đây là cả một sự kết tập khá hoàn
chỉnh về pháp hộ niệm vãng sanh. 
Con có duyên lành được cùng với phái đoàn của Cư Sĩ
Diệu Âm về nước tham dự các pháp hội “Niệm Phật Cầu
Quốc Thái Dân An” được tổ chức nhiều nơi trên ba miền đất
nước Việt Nam vào tháng 11-12/2016. Tại mỗi nơi Cư Sĩ đều
được mời để nói về pháp hộ niệm vãng sanh. Cư Sĩ đã hướng
dẫn sự thực hành cụ thể và triển khai cả lý đạo giải thoát quá
tuyệt vời.  Pháp hộ niệm hình thức thì đơn giản, nhưng lý đạo
lại bao trùm pháp giới, và không ngờ đây chính là đại cứu
tinh cho chúng sanh trong thời mạt pháp này. Không ngờ
niệm Phật là con đường rất ngắn trở về Tự Tánh. Càng nghe
càng ngộ, càng ngộ càng thấy thêm những điều vi diệu mới...
Thật bất khả tư nghì!
Con cũng có dịp may gặp được nhiều ban hộ niệm  
trong nước từ bắc tới nam, và vô cùng xúc động khi nghe kể
lại những trường hợp vãng sanh, nhiều không kể hết. Thật
đáng thán phục! Các Ban Hộ Niệm khắp nơi đã kiên trì hộ
niệm cả ngày lẫn đêm, suốt mười mấy năm qua đưa hàng
ngàn người ra đi với thân tướng vô cùng tốt đẹp. Biết được
điều này, giờ đây nghĩ lại mới thấy quá xót thương cho thân
bằng quyến thuộc, bạn hữu gần xa, người quen kẻ lạ đã vĩnh
viễn ra đi trong mờ mờ mịt mịt, gởi huệ mạng đời đời kiếp
kiếp vào những cảnh tối tăm khổ nạn!...
Con xin tri ân Cư Sĩ Diệu Âm, với tấm lòng từ bi, thiết
tha mong mỏi người người đều được vãng sanh, gần 20 năm
qua đã đem hết tâm huyết nghiên cứu pháp môn Tịnh-Độ qua
sự thực hành pháp hộ niệm. Cư Sĩ đã mang pháp Niệm Phật
Hộ Niệm Vãng Sanh gieo rải khắp Việt Nam và nhiều nước
trên thế giới. Đến nay, hiện tượng vãng sanh thật sự đã xảy ra
rất nhiều, càng ngày càng nhiều, hàng ngày đều có tin vãng
sanh mới. Vô cùng vi diệu! Thật bất khả tư nghì!
Con vô cùng trân quí những lời Cư Sĩ thường tha thiết
nhắc nhở chúng con:
- Chư vị ơi! Hãy tự cứu mình. Thời mạt pháp tu hành
khó lắm! Phải biết chọn lựa pháp môn phù hợp với căn cơ
của chính mình thì mới mong có ngày thành tựu...
- Chư vị ơi! Cứ thật thà niệm Phật đi. Hãy dùng tâm
chí thành chí kính mà niệm Phật. Một câu Phật hiệu niệm
cho tới cùng. Hãy nương dựa vào nhau và tích cực hộ niệm
trợ duyên cho nhau thì một đời này ta có thể thành đạo...
- Chư vị ơi! Hãy cố gắng cứu cha mẹ, anh em, thân 
bằng, quyến thuộc của mình đi... Hàng ngàn người đã được
hộ niệm vãng sanh rồi, thì mỗi người chúng ta đều có thể làm
được điều này. Vậy thì tại sao ta nỡ vô tình an nhiên nhìn
người thân bị đọa lạc?!... 
Cư Sĩ còn thường xuyên nhắc đến lời này:
- Chư vị ơi! Hãy nghiên cứu pháp Hộ Niệm liền đi kẻo
muộn. Vô thường tấn tốc, chánh Pháp khó gặp... Tu hành
chung chung coi chừng không đủ!...
Con cũng xin thành tâm tri ân các ban hộ niệm trong
nước và ngoài nước cùng chư Liên Hữu đã phát tâm, đang
phát tâm và sẽ phát tâm thực hành Bồ-Tát đạo hộ niệm cứu
người vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc
Đối với con tập sách này vô cùng trọng yếu, giống như
một kim chỉ nam cho tất cả các ban hộ niệm để thực hiện
pháp hộ niệm như lý như pháp. Hy vọng khi đọc qua chư vị
đều nắm vững quy tắc hộ niệm, tránh điều sơ suất, thực hiện
chính xác pháp “Đại Cứu Tinh” này để giúp thật nhiều người
vãng sanh Tịnh-Độ. 
Nguyện mong tập sách này được phát hành rộng khắp
để nhà nhà đều có, người người được đọc. Nguyện cầu pháp
hộ niệm được lưu tồn để càng ngày càng có thêm nhiều
người khi mãn báo thân được vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc, thành tựu đạo quả.
Nam Mô A-Di-Đà-Phật.
Chân Thành Tri Ân.
Phật tử Diệu Âm (Phương Phi)


Chương 1: 
 
 

TỔNG QUÁT VỀ PHÁP HỘ-NIỆM
 

Chúng ta cần học hỏi, nghiên cứu cẩn thận để có nhận 
thức đúng đắn về pháp hộ niệm rồi mới đồng ý với nhau rằng
đây đúng là chánh pháp trong Phật môn, một pháp cứu người
vãng sanh vi diệu, một đại cứu tinh cho tất cả mọi người
trong thời mạt pháp này để có cơ hội thành tựu đạo quả.  
Chú ý: Từ “Vãng Sanh” dùng trong tập sách này là
chỉ cho người xả bỏ báo thân được sanh về thế giới Tây
Phương Cực-Lạc (TPCL).
Từ “Niệm Phật” là niệm A-Di-Đà Phật. Mỗi vấn đề đưa ra
có nhiều câu trả lời: (a), (b), (c), (d), (e)...
theo đáp án [Đúng] hoặc [Sai], kết quả đều có ghi rõ
sau mỗi câu. 
Đáp án [Đúng] là sự thực hành chính xác, không bị sơ
suất. Đáp án [Sai] có hàm nghĩa rộng như: không thích hợp
lắm, không cần thiết, kinh Phật không nói đến, chư Tổ không
khuyên dùng, không thấy nhắc đến trong các tài liệu hộ niệm,
nếu chúng ta tự động áp dụng có thể dẫn đến sơ suất v.v...
Xin chư vị chú ý cẩn thận, đừng nên thêm bớt. 


1. Pháp Hộ Niệm vãng sanh bắt nguồn từ đâu?
a) Được Phật huyền ký trong nhiều kinh điển, nhất là
kinh luận Tịnh-Độ. [Đúng]
b) Được chư Tổ dựa theo kinh Phật rồi hệ thống hóa để
ứng dụng trợ duyên cho người lâm chung vãng sanh
Tây-Phương Cực-Lạc. [Đúng]
c) Do pháp sư Tịnh Không sáng chế ra, được Tịnh-Tông
Học Hội phổ biến mà có. [Sai]
d) Hoàn toàn do người thời này tự sáng chế ra chứ không
có trong kinh Phật. [Sai] 
 

2. Pháp hộ niệm vãng sanh của Tịnh-Độ Tông y cứ
vào kinh nào? 

a) Ba kinh Tịnh-Độ: A-Di-Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô
Lượng Thọ. [Đúng] 
b) Kinh Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm, kinh Địa
Tạng… [Đúng] 
c) Và nhiều kinh điển đại thừa khác đều có huyền ký về
hộ niệm. [Đúng] 
 

3. Những tài liệu nào trước đây nói về Hộ Niệm vãng
sanh? 

a) “Lâm Chung Chánh Niệm Vãng Sanh” của đại sư
Thiện Đạo. [Đúng] 
b) “Lâm Chung Tam Nghi Tứ Quán” của ngài Từ Chiếu
Tông Chỉ. [Đúng] 
c) “Sức Chung Tu Tri” của pháp sư Thế Liễu. [Đúng]
d) “Lâm Chung Cảnh Sách” của đại sư Ưu Đàm. [Đúng] 
 
 
4. Những tài liệu nào hiện nay nói về Hộ Niệm vãng
sanh? 

a) “Quy Tắc Trợ Niệm Khi Lâm Chung và Pháp Ngữ
Khai Thị”, kết tập của chư Tổ Tịnh-Độ. [Đúng] 
b) “Hỏi Đáp Trợ Niệm Khi Lâm Chung” của  PS Tịnh
Không (kết tập). [Đúng] 
c) “Sự Kiện Quan Trọng Nhất Của Đời Người” của PS
Tịnh Không. [Đúng] 
d) “Khuyên Người Niệm Phật” của cư sĩ Diệu Âm (Minh
Trị). [Đúng] 
e) Rất nhiều cuộc tọa đàm nói về hộ niệm của cư sĩ Diệu
Âm (Minh Trị). [Đúng] 
f) Và rất nhiều tài liệu khác của Tịnh-Độ tông. [Đúng] 
 

5. Trên thế gian này có bao nhiêu pháp hộ niệm?
a) Mỗi pháp môn tu học đều có pháp hộ niệm riêng.
[Đúng]
b) Tất cả mọi tôn giáo đều có phương pháp hướng dẫn
người sắp chết đi về cảnh giới tương ứng, có thể gọi là
cách “Hộ Niệm” của họ. [Đúng]
c) Duy nhất chỉ có một pháp hộ niệm của Tịnh-Độ tông.
[Sai]
d) Những người tu hành mà tiêu cực nên cứ nằm đó cầu
chết mới nói đến hộ niệm. [Sai] 
 

6. Pháp hộ niệm vãng sanh TPCL chính là:
a) Pháp hộ niệm chung của Phật Giáo không phân biệt 
pháp môn. [Sai]
b) Pháp hộ niệm của Thiền tông giúp cho người “Minh
Tâm Kiến Tánh”. [Sai]
c) Pháp hộ niệm của Tịnh-Độ tông giúp cho người vãng
sanh TPCL. [Đúng]
d) Pháp hộ niệm của Mật tông giúp cho người được “Tam
Mật Thanh Tịnh”. [Sai] 
 

7. Trong Tịnh-Độ tông, những vị Tổ nào đề xướng hộ
niệm? 

a) Từ sơ tổ Huệ-Viễn đời nhà Tấn khi kết lập Bạch Liên
Xã ở Lô Sơn Đông Lâm khuyên đồng tu quyết thề đồng
vãng sanh về Liên Bang Cực Lạc. [Đúng] 
b) Đại sư Thiện-Đạo đời nhà Đường, tổ thứ 2 Tịnh-Độ
tông rất chú trọng pháp hộ niệm để giúp người hạ căn
phàm phu giữ được chánh niệm mà vãng sanh. [Đúng] 
c) Tất cả chư tổ Tịnh-Độ đều khuyến nhắc hộ niệm.
[Đúng] 
 

8. Tại sao cần phải hộ niệm?
a) Đến thời mạt pháp này nghiệp chướng của chúng sanh
quá nặng. Cần phải hộ niệm mới giúp được người
bệnh vượt qua ách nạn của nghiệp báo. [Đúng]
b) Chúng sanh phạm tội sát sanh hại vật quá nhiều, nạn
oán thân trái chủ quá kịch liệt. Cần phải hộ niệm mới
có thể hóa giải mối oán thù này mà thoát nạn. [Đúng]
c) Lúc còn khỏe thì có thể lý luận, đến khi nằm xuống thì
các căn tán hoại, nếu không được hộ niệm thì coi 
chừng uổng phí một đời tu hành. [Đúng]
d) Người bệnh còn rất nhiều vướng mắc khác. Cần phải
hộ niệm mới hóa gỡ được giúp người bệnh chuyên
nhất niệm Phật cầu vãng sanh. [Đúng]
e) Khi nào người bệnh muốn chết sớm thì nên cần đến hộ
niệm. [sai]
f) Phàm phu khi lâm chung bị nghiệp khổ bức bách, gia
sự rối ren, oán thân trái chủ trả thù đòi nợ rất nguy
hiểm… nếu không được hộ niệm rất khó thoát nạn.
[Đúng]
g) Người tu hành lâu năm thì không cần hộ niệm cũng
được vãng sanh. [Sai]
h) Người nào niệm Phật đã đạt được tam muội thì có thể
không cần đến hộ niệm, ngoài ra ai cũng cần đến hộ
niệm. [Đúng]
i) Người được hộ niệm nếu không được vãng sanh thì
cũng hết bệnh. [Sai] 
 

9. Người phát tâm hộ niệm vãng sanh cần nghiên cứu
những gì? 

a) Nghiên cứu tất cả những pháp hộ niệm để tổng hợp và
rút tỉa ưu khuyết điểm. [Sai] 
b) Nghiên cứu nhiều pháp hộ niệm rồi chọn một pháp tâm
đắc để hộ niệm. [Sai] 
c) Nghiên cứu nhiều pháp hộ niệm khác nhau thường bị
mông lung, không có định hướng thẳng về cảnh giới
TPCL. [Đúng] 

d) Phải nghiên cứu thật kỹ pháp hộ niệm của Tịnh-Độ
tông là đủ, vì chỉ có pháp hộ niệm của Tịnh-Độ tông
mới hướng dẫn đi thẳng về TPCL.. [Đúng] 
e) Phải nghiên cứu pháp hộ niệm của Tịnh-Độ tông,
nhưng cần bổ túc thêm những sáng kiến mới. [Sai]  
 

10 Pháp hộ niệm vãng sanh là gì? 
a) Là người khỏe niệm Phật thay cho người bệnh, vì
thường người bệnh không tự niệm Phật được. [Sai] 
b) Là một pháp do Tịnh-Độ tông Trung Hoa sáng chế ra,
chứ không có trong kinh điển của Phật. [Sai] 
c) Là cách giảng giải Phật pháp cho người bệnh hiểu rõ lý
đạo vãng sanh. [Sai] 
d) Là cách hướng dẫn người bệnh thực hiện được đầy đủ
Tín, Nguyện, Hạnh để vãng sanh. [Đúng]. 
e) Là pháp cầu tiêu tai giải nạn, tiêu trừ tật bệnh. [Sai] 
f) Là pháp giúp người đang bị bệnh khổ hành hạ được
chết sớm để bớt khổ đau. [Sai] 
g) Là pháp giúp cho người đang trong cơn hấp hối được
tắt hơi sớm. [Sai] 
h) Một pháp thuộc về tâm lý học nhằm an tâm người
bệnh, giảm bớt sự đau khổ cho gia đình trước cảnh
sanh tử biệt ly. [Sai] 
i) Là sự kết hợp giữa pháp siêu độ vong linh của Việt
Nam và Tam Thời Hệ Niệm của quốc sư Trung Phong.
[Sai] 
j) Là một pháp niệm Phật được ứng dụng rất vi diệu giúp 
người bệnh chắc chắn được vãng sanh. [Sai] 
k) Chính là pháp môn Niệm Phật được ứng dụng cụ thể,
chính xác, đúng lúc giúp người lâm chung vãng sanh
TPCL. [Đúng] 
 
11. Phật dạy tất cả do tâm tạo. Pháp hộ niệm thực thi
cụ thể và chính xác lý đạo này. Xin giải thích rõ. 
a) Ý niệm cuối cùng quyết định đời kiếp tương lai, ví dụ:
sân giận đọa địa ngục, tham lam đọa ngạ quỷ, ngu si
đọa bàng sanh. Vậy thì khi lâm chung nếu người bệnh
quyết niệm Phật cầu vãng sanh TPCL thì được vãng
sanh. [Đúng] 
b) Người bệnh có tâm nguyện niệm Phật cầu hết bệnh sẽ
được hết bệnh. [Sai] 
c) Cầu hết bệnh là đem cả đại pháp của Phật phục vụ cho
thân xác tứ đại vô thường. Tu hành sai pháp Phật nên
không được vãng sanh. [Đúng] 
d) Người một đời tu hành, nhưng khi sắp chết lại thương
tiếc thân mạng, cầu xin hết bệnh thì phải theo xác thân
mà bị đọa lạc. [Đúng] 
e) Ý niệm cuối cùng quyết định đời kiếp tương lai, cho
nên pháp hộ niệm hướng dẫn thẳng về TPCL để người
lâm chung vãng sanh. [Đúng] 
f) Người phàm phu lâm chung bị bệnh khổ hành hạ,
nghiệp chướng bức bách, không thể tự chủ được, nhờ
hộ niệm mà họ quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh
mà được vãng sanh. [Đúng] 
g) Người ưa thích lý luận cao huyền, vô tình sự lý luận sẽ
tạo nhân chủng hỗn loạn trong tâm. Tâm loạn không
thể vãng sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
h) Người tu tập nhiều thứ, tìm hiểu nhiều lý đạo thì khi
lâm chung họ dễ dàng chọn lựa đường nào thích hợp
để đi. [Sai]  
i) Người tu tập quá nhiều thứ, thì mông lung không chủ
định, đến khi lâm chung sẽ hoang mang như đứng giữa
vạn nẻo đường đành phải theo nghiệp thọ nạn. [Đúng] 
j) Một người tu hành rất giỏi, công phu cao thì khi bỏ
báo thân chắc chắn được vãng sanh TPCL. [Sai] 
k) Một người tu hành rất giỏi, nhưng không nguyện sanh
về TPCL nhất định không được vãng sanh. [Đúng] 
l) Tất cả do tâm tạo, pháp hộ niệm hướng dẫn người khi
ra đi quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh về TPCL
nên họ được vãng sanh. [Đúng] 
 

12. Vãng Sanh là gì?
a) Từ này được Phật nói rất nhiều trong các kinh điển
Tịnh-Độ tông, chỉ cho người khi bỏ báo thân được ADi-Đà
Phật
tiếp
dẫn
thẳng
về cảnh
TPCL.
[Đúng]

b)

Vãng sanh tức là chết, danh từ tuy khác nhau nhưng ý
nghĩa thì tương đồng. [Sai]
c) Đây là thuật ngữ chỉ cho người chết được tái sanh vào
những cảnh thiện trong sáu đường luân hồi. [Sai]
d) Chỉ cho những người khi chết rồi để lại thân xác mềm
mại, sắc tướng an lành. [Sai] 


13. Nói về hiện tượng vãng sanh TPCL, cần nhớ những
điểm gì? 

a) Người chết để lại thoại tướng mềm mại thì chắc chắn
được vãng sanh TPCL. [Sai] 
b) Người biết trước ngày giờ chết, an lành ra đi, để lại
nhiều xá lợi thì chắc chắn được vãng sanh TPCL. [Sai] 
c) Người chết về báo mộng cho biết mình đã vãng sanh
thì được vãng sanh. [Sai] 
d) Người được vãng sanh thì có thoại tướng tốt, nhưng có
thoại tướng tốt chưa hẳn là được vãng sanh TPCL.
[Đúng] 
e) Người thực hiện được đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, lúc
lâm chung thấy A-Di-Đà Phật tiếp dẫn thì chắc chắn
được vãng sanh TPCL. [Đúng] 
f) Người hiền hậu, có chí quyết vãng sanh, lại được hộ
niệm cẩn thận, nếu có thoại tướng tốt thì xác suất vãng
sanh rất cao. [Đúng] 
 
14. Người ra đi với thoại tướng tốt, tại sao chưa chắc
được vãng sanh TPCL? 
a) Người tu bố thí, làm thiện, ít tạo nghiệp ác… khi chết
nếu để lại thoại tướng tốt thì họ theo nghiệp thiện mà
sanh vào ba cảnh thiện để hưởng phước chứ không
phải vãng sanh TPCL. [Đúng] 
b) Người suốt đời niệm Phật cầu sanh TPCL, lúc lâm
chung vẫn niệm Phật nhưng lại quyến luyến thế gian,
tưởng nhớ đến phước báu, v.v… quên mất tâm nguyện 
vãng sanh thì dù có thoại tướng tốt vẫn chỉ sanh vào
ba cảnh thiện mà thôi. [Đúng] 
c) Người tu hành các pháp môn tự lực, nếu đạt được mức
tu chứng tốt, ra đi có tướng lành thì có thể sinh vào
những cảnh Trời tương ứng với mức chứng chứ không
phải vãng sanh TPCL. [Đúng] 
d) Người tu hành phước lớn, nhưng nghiệp chưa sạch thì
ra đi dù có thân tướng tốt cũng chỉ được sanh lên một
cảnh giới lành để hưởng phước, chứ không phải vãng
sanh TPCL. [Đúng] 
e) Chỉ có người niệm Phật tha thiết cầu sanh TPCL, giữ
vững ý niệm này đến lúc buông bỏ báo thân, ra đi để
lại thoại tướng tốt mới được vãng sanh TPCL. [Đúng]  
 

15. Người niệm Phật ra đi với thoại tướng tốt, trường
hợp nào ta biết họ được vãng sanh TPCL? 

a) Trước khi ra đi chính họ nói đã thấy được A-Di-Đà
Phật đến tiếp dẫn, trường hợp này chắc chắn nhất.
[Đúng] 
b) Nhiều khi nói không nổi, nhưng thường ngày niệm
Phật tốt, đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh đến giây phút cuối
cùng thì tin tưởng họ được vãng sanh. [Đúng] 
c) Người có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, tắt hơi sau hơn 8
giờ mà hơi ấm còn lưu lại một điểm ở đỉnh đầu thì xác
suất vãng sanh rất cao. [Đúng] 
d) Người đã được vãng sanh thì thân tướng rất tốt, bất
khả tư nghì. [Đúng] 
 

16. Tại sao người biết trước ngày giờ ra đi cũng không
chắc chắn được vãng sanh TPCL? 

a) Người tu hành các pháp môn khác, vì họ không cầu
vãng sanh về TPCL, nhưng nhờ công phu cao, định lực
mạnh, họ có thể ngưng thần ra đi theo những cảnh giới
tương ứng khác. [Đúng] 
b) Có nhiều trường hợp người tu theo các đạo Quỷ Thần,
được các Ngài báo cho biết ngày chết để về phục vụ
trong các cảnh giới Quỷ Thần. [Đúng] 
c) Chỉ có người nào tin tưởng, thành tâm niệm Phật cầu
sanh TPCL mới được vãng sanh. [Đúng] 
d) Biết trước ngày giờ ra đi là một thoại tướng tốt, chứ
không phải là điều kiện bảo đảm việc vãng sanh.
[Đúng] 
 

17. Những gì có thể làm được khi Hộ Niệm? 
a) Giúp người bệnh vượt thoát nhiều cạm bẫy hiểm
nghèo, tránh bị khủng hoảng hay sợ hãi khi lâm chung.
[Đúng]
b) Hướng dẫn người bệnh phát nguyện vãng sanh ngắn
gọn cho dễ nhớ. [Đúng]
c) Giúp người bệnh an tâm nằm dưỡng bệnh, không cần
suy nghĩ gì cả. [Sai]
d) Hộ niệm có thể hóa giải nhiều chướng ngại giúp người
bệnh an tâm niệm Phật cầu vãng sanh. [Đúng]
e) Hướng dẫn người bệnh thực hiện chính xác pháp môn
niệm Phật ngay trong giây phút sắp mãn báo thân để 
được vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc. [Đúng]
f) Giúp người khi lâm chung giữ được chánh niệm, niệm
Phật cầu vãng sanh Tịnh-độ. [Đúng]
g) Khéo léo hướng dẫn, dùng tâm lý khuyến tấn giúp
người bệnh an tâm niệm Phật vãng sanh. [Đúng]
h) Khai thị, hướng dẫn người bệnh buông xả vạn duyên,
nhiếp tâm niệm Phật cầu vãng sanh. [Đúng]
i) Giúp người bệnh không cầu hết bệnh, không sợ chết,
tha thiết muốn vãng sanh thành đạo. [Đúng]
j) Giảng pháp là chính, nhưng phải biết tâm lý để an ủi
người bệnh mới được. [Sai]
k) Không nên giảng giải lý đạo cao siêu. Hãy chú ý hóa
gỡ những vướng mắc, khuyên người bệnh tin tưởng
niệm Phật cầu vãng sanh là tốt. [Đúng]
l) Hướng dẫn gia đình người bệnh thực hiện quy luật trợ
niệm vãng sanh. [Đúng]
m) Dặn dò người thân không được khóc lóc, than thở
hoặc nói những lời bi quan trước mặt người bệnh.
[Đúng]
n) Ngăn cấm mọi sự đụng chạm vào thân thể người chết
ít ra là 8 tiếng đồng hồ sau khi tắt thở. [Đúng]
o) Một BHN giỏi có thể giúp cho người bệnh hết bệnh
hoặc muốn ra đi lúc nào tùy ý. [Sai]
p) Người dù có tu hành tốt nhưng lâm chung không được
hộ niệm cũng dễ bị nghiệp khổ hành hạ, bị rối loạn mà
quên mất đường vãng sanh. [Đúng]
q) Người tu hành lâu năm nhưng khi ra đi không được hộ  
niệm vẫn dễ bị vướng bẫy của oán thân trái chủ mà bị
nạn. [Đúng] 
r) Người hộ niệm có thể kịp thời chế ngự oan gia trái
chủ, không cho họ đánh phá người bệnh. [Sai]  
s) Người hộ niệm có thể đánh đuổi oan gia trái chủ, trị
ma quái đang công phá người bệnh. [Sai] 
t) Hộ niệm chỉ giúp cho người bệnh an tâm niệm Phật
cầu vãng sanh, không liên quan đến vấn đề oan gia trái
chủ. [Sai] 
u) Hộ niệm có thể điều giải nạn oán thân trái chủ, giúp
người bệnh khỏi bị khủng bố. [Đúng] 
v) Hộ niệm có thể an ủi, khuyến tấn, ủng hộ tinh thần
giúp người bệnh không sợ hãi, an ổn niệm Phật khi
lâm chung mà vãng sanh. [Đúng] 
w) Hộ niệm có thể hướng dẫn gia đình biết cách niệm
Phật hộ niệm và giải quyết tốt nhiều biến cố xảy ra
giúp cho người bệnh dễ thoát nạn. [Đúng] 
x) Hộ niệm cần khuyên bệnh nhân thành tâm sám hối,
nhờ thế mà hóa giải nạn oán thân trái chủ. [Đúng] 
 

18. Phương thức cần ứng dụng để giảm thiểu sơ suất?
a) Cần phổ biến rộng rãi tài liệu hộ niệm vãng sanh đến
tất cả thành viên BHN và đến đại chúng nếu có thể.
[Đúng]  
b) Lập quy trình huấn luyện, T/P BHN cần được đào tạo
tốt để thực thi chánh pháp, tránh điều sơ suất. [Đúng]
c) Nếu hộ niệm theo ý riêng, pháp hộ niệm rất dễ bị biến 
chất, không còn chánh pháp nữa và sớm ngày mai một.
[Đúng] 
 

19. Những điểm khác nhau giữa Hộ Niệm và Cầu Siêu:
a) Hộ Niệm là hướng dẫn cách tu hành, hóa gỡ chướng
nạn cho người đang sống, còn Cầu Siêu là phương
cách gỡ nạn cho người đã chết. [Đúng]
b) Hộ Niệm là hướng dẫn cho người sắp lâm chung giữ
được chánh niệm, vững Tín-Nguyện-Hạnh để vãng
sanh, còn Cầu Siêu là pháp hướng dẫn thân trung-ấm
tỉnh ngộ mà siêu sanh. [Đúng]
c) Hộ Niệm là một pháp tu giúp người sống thực hiện
pháp môn Niệm Phật một cách cụ thể, vững vàng để
được sanh về Tịnh-Độ, còn Cầu Siêu là pháp hồi
hướng công đức, tăng phước, giảm tội cho hương linh
sau khi đã chết. [Đúng]
d) Hộ Niệm là pháp hướng dẫn người bệnh chủ động
thực hiện Tín-Nguyện-Hạnh để đi vãng sanh, Cầu Siêu
là pháp tìm cách cứu độ người đã bị chết rồi. [Đúng] 
 

20. Những điểm khác nhau giữa Hộ Niệm và Cầu An:
a) Mục đích của Hộ Niệm là giúp người vãng sanh thành
đạo, còn mục đích của Cầu An là cầu tiêu tai giải nạn
khi bị nạn hoặc đau bệnh. [Đúng]
b) Hộ Niệm là cả một quá trình tu học để thành tựu đạo
quả, còn Cầu An chỉ thực hiện khi nghiệp chướng hiện
hành rồi tìm cách hóa giải. [Đúng]
c) Hộ Niệm là trợ duyên cho người bệnh giữ vững ba tư 
lương Tín-Nguyện-Hạnh của pháp môn niệm Phật để
vãng sanh, còn Cầu An chủ tâm cầu hết bệnh. [Đúng] 
 

21. Người muốn được vãng sanh TPCL phải làm gì?
a) Tin tưởng vững vàng vào pháp niệm Phật, ngày ngày
chí thành niệm Phật cầu vãng sanh TPCL. [Đúng]
b) Cần chuẩn bị sự hộ niệm cẩn thận lúc lâm chung mới
có thể hóa giải những vướng mắc và giữ được chánh
niệm để vãng sanh. [Đúng]
c) Bắt buộc phải chứng đắc cảnh giới “Nhất Tâm Bất
Loạn” mới được vãng sanh. [Sai]
d) Người nào tu lâu thì chắc chắn được vãng sanh. [Sai]
e) Tín-Nguyện-Hạnh của pháp môn Niệm Phật phải vững
vàng. [Đúng]
f) Cần nghiên cứu thật cẩn thận pháp hộ niệm của TịnhĐộ

tông, nắm vững quy luật hộ niệm, đừng nên sơ
suất. [Đúng]
g) Không thể nằm đó chờ sắp chết rồi phó thác vào BHN.
[Đúng]
h) Phải lo làm di chúc trước cho con cháu về gia sự, tài
sản, dặn con cháu phải nghe sự hướng dẫn của BHN
lúc lâm chung đừng để quá trễ. [Đúng]
i) Phải tập buông xả. Buông xả trụi lủi vãng sanh tự tại.
Buông xả nhiều vãng sanh dễ. Buông xả ít vãng sanh
khó. Không buông xả không thể vãng sanh. [Đúng] 


22. Nhiệm vụ của BHN là gì? 
a) Cứu người bệnh vãng sanh TPCL. [Sai] 
b) Cứu người lâm chung vượt thoát sáu đường sanh tử
luân hồi. [Sai]
c) Niệm Phật, hướng dẫn, trợ duyên, giúp người bệnh lúc
lâm chung thực hiện đúng pháp niệm Phật cầu vãng
sanh Cực-Lạc để họ được vãng sanh. [Đúng]
d) Giúp người có duyên niệm Phật chứng đắc “Nhất Tâm
bất Loạn”. [sai] 
 

23. Cách cầu nguyện nào đúng với pháp Hộ Niệm?
a) Cầu Phật Bồ-Tát gia trì cho người bệnh chóng lành
bệnh. [Sai]
b) Cầu Phật Bồ-Tát gia trì cho người bệnh sống lâu,
trường thọ. [Sai]
c) Buông xả vạn duyên, nhiếp tâm niệm Phật cầu sanh
Tây-Phương Cực-Lạc. [Đúng]
d) Cầu Phật Bồ-Tát gia trì người đang bị bệnh khổ hành
hạ được chết sớm cho khỏe thân. [Sai] 
 

24. Người hộ niệm chú ý dặn dò người bệnh những gì? 
a) Chỉ được theo A-Di-Đà Phật, không được đi theo một
vị nào khác. Thấy bất cứ ai cũng bình thản tiếp tục
niệm Phật chờ Phật A DI ĐÀ đến tiếp dẫn. A-Di-Đà
Phật sẽ ứng hiện giống như tấm hình mà BHN treo
trước mặt. [Đúng]
b) Chỉ được theo Phật và Bồ-Tát mà thôi, không được
theo ông bà quyến thuộc. [Sai]
c) Cần giữ tâm thanh tịnh, bình thản trước mọi cảnh giới 
để tâm thức tự chuyển hóa theo duyên. [sai] 
 

25. Người Hộ Niệm có thể giúp người bệnh những gì?
a) Kịp thời chế ngự, hoặc đàn áp oan gia trái chủ không
cho phép họ đánh phá người bệnh, nhờ thế người bệnh
mới được an toàn. [Sai]
b) Giúp người bệnh niệm Phật cầu vãng sanh, không liên
quan gì đến vấn đề oan gia trái chủ. [Sai]
c) Điều giải oan gia trái chủ, giúp người bệnh tránh
được những cạm bẫy hiểm nghèo. Hóa gỡ những
vướng mắc, khuyên người bệnh nhiếp tâm niệm Phật.
[Đúng]
d) Nếu cần thiết có thể thay gia đình chăm sóc người
bệnh. [Sai]
e) An ủi, khuyến tấn, động viên tinh thần người bệnh giúp
họ an tâm niệm Phật cầu vãng sanh. [Đúng]
f) Khuyên người bệnh buông xả rốt ráo không cần ăn
uống nữa để sớm được vãng sanh. [Sai]
g) Khuyên người bệnh không sợ chết, mà hãy coi đây
chính là cơ hội thoát được nạn khổ của thân nghiệp
báo để vãng sanh thành đạo. [Đúng]
h) Khuyên người bệnh không cầu hết bệnh, vì cầu hết
bệnh thì không còn tha thiết chuyện vãng sanh nên
đành phải mất phần vãng sanh. [Đúng]
i) Quan sát những diễn biến trên sắc mặt người bệnh để
bắt kịp mọi sự biến chuyển về tinh thần hầu tìm cách
hóa giải. [Đúng]  
 

26. Tại sao người bệnh còn sợ chết thì không được
vãng sanh? 

a) Vì còn quyến luyến cõi trần này nên không được vãng
sanh. [Đúng] 
b) Vì tinh thần sẽ hãi kinh, bấn loạn khi lâm chung nên
không được vãng sanh. [Đúng] 
c) Vì còn tham sống sợ chết thì không đúng tông chỉ TínNguyện-Hạnh,
nên
không
được
vãng
sanh.
[Đúng]
 

27. Tại sao người bệnh cầu hết bệnh thì không được
vãng sanh? 

a) Vì lạc mất khỏi tông chỉ của pháp niệm Phật, không
tương ưng với đại nguyện của Phật A Di Đà nên không
được vãng sanh. [Đúng] 
b) Vì không tha thiết nguyện vãng sanh, nên không được
vãng sanh. [Đúng] 
c) Tâm đang lo về bệnh, đang nghĩ về bệnh nên phải theo
nghiệp chướng thọ nạn. [Đúng] 
d) Vì còn tham sống thêm thì không đúng tông chỉ TínNguyện-Hạnh,
nên
không
được
vãng
sanh.
[Đúng]
 

28. Đối với gia đình, người Hộ Niệm cần nên làm gì?
a) BHN nên đến giảng giải pháp hộ niệm cho những gia
đình có người bệnh biết. [Sai]
b) Gia đình phải đến mời thì BHN mới được quyền vào
nhà người bệnh trình bày về hộ niệm. [Đúng]
c) BHN phải làm việc cẩn thận về qui luật hộ niệm với 
gia đình người bệnh trước khi nhận ca. [Đúng]
d) Khi đã hộ niệm rồi thì không cần thiết phải để ý đến
thân nhân trong gia đình. [Sai]
e) Hướng dẫn và khuyến tấn gia đình cùng hộ niệm đúng
pháp để trợ duyên cho người thân của họ. [Đúng]
f) Khuyên gia đình chú ý cho bệnh nhân ăn uống đầy đủ
để có sức khỏe và tinh thần tốt mà niệm Phật. [Đúng]
g) Khai thị, hướng dẫn người bệnh niệm Phật cầu vãng
sanh là đủ. [Sai]
h) Nếu gia đình có làm điều gì sai lầm thì phải cực lực
phản đối liền. [Sai]
i) Cần động viên gia đình tin tưởng và quyết lòng niệm
Phật hộ niệm cho người thân vãng sanh. [Đúng]
j) Nhắc nhở gia đình không nên để bà con, bạn bè không
rành hộ niệm thường xuyên trực tiếp thăm hỏi người
bệnh. [Đúng]
k) Nhắc nhở gia đình không được khóc lóc, âu sầu, nói
lời bi quan trước mặt người bệnh. [Đúng]
l) Nhắc nhở gia đình không được đụng chạm vào thân
xác từ lúc tắt hơi cho đến ít nhất 8 giờ. [Đúng]
m) Nhắc nhở gia đình luôn luôn phải có ít nhất một người
sát bên cạnh người bệnh để chăm sóc. [Đúng]
n) Nhắc nhở gia đình cần báo với BHN biết về mọi tình
huống của người bệnh. [Đúng] 
 

29. Mức tu chứng tối thiểu của người Hộ Niệm là gì?
a) Tự mình niệm Phật phải “Nhất Tâm Bất Loạn” thì mới 
có khả năng hộ niệm cho người khác vãng sanh thành
đạo được. [Sai]  
b) Niệm Phật dù không được “Nhất Tâm Bất Loạn”,
nhưng ít ra cũng phải đạt được tiêu chuẩn niệm Phật
thành thục mới có thể hộ niệm. [Sai] 
c) Không cần chứng đắc, nhưng ít ra cũng phải được cảm
ứng với “Bề Trên” ứng hiện khai thị hướng dẫn rồi
mới được hộ niệm. [Sai] 
d) Không cần tu chứng, nhưng cần học tập kỹ pháp hộ
niệm và chân thực phát tâm hộ niệm cho người lâm
chung vãng sanh là được. [Đúng] 
e) Tâm từ bi thương người với lòng chí thành khẩn thiết
cầu A-Di-Đà Phật gia trì tiếp độ người bệnh là có thể
hộ niệm được. [Đúng] 
f) Vãng sanh là do người bệnh biết buông xả và có đầy
đủ Tín-Nguyện-Hạnh mà được Phật tiếp dẫn chứ
không phải do năng lực của người hộ niệm. [Đúng] 
 

30. Người Hộ Niệm cần trang bị những kiến thức gì?
a) Hiểu rõ quy luật của pháp hộ niệm để hướng dẫn
người bệnh vãng sanh, tránh điều sơ suất khi hộ niệm.
[Đúng]
b) Hiểu biết đạo pháp nhiệm mầu để thấu suốt mọi tình
huống. [Sai]
c) Nắm vững nhiều lý đạo cao siêu để khai thị cho người
bệnh sớm ngộ đạo. [Sai]
d) Phải đọc tụng càng nhiều kinh điển của Phật càng tốt. 
[Sai]
e) Cần biết ứng dụng tâm lý để khuyến tấn người bệnh.
[Đúng] 
 

31. Đối với oán thân trái chủ, người hộ niệm phải:
a) Có năng lực chế ngự oan gia trái chủ khiến họ không
thể đến gần người bệnh. [Sai]
b) Thành tâm điều giải và khuyên người bệnh phải kiệt
thành sám hối lỗi lầm thì mới có thể điều giải nạn oán
thân trái chủ. [Đúng]
c) Có tâm kính cẩn, từ bi, thương xót, cầu mong cho họ
cùng được giải thoát. [Đúng] 
 

32. Cách niệm Phật trong buổi hộ niệm:
a) Phải niệm Phật thầm trong tâm và quán tưởng đến Phật
phóng quang tiếp dẫn. [Sai]
b) Niệm “A-Di-Đà Phật” hoặc “Nam Mô A-Di-Đà Phật”
ra tiếng để người bệnh nghe và niệm theo. [Đúng]
c) Nên niệm Phật theo cách mà người bệnh ưa thích hay
thường niệm để họ dễ được cảm ứng. [Đúng]
d) Nếu người bệnh không đòi hỏi cách niệm nào đặc biệt,
thì nên niệm 4 chữ “A-Di-Đà Phật” theo trung đạo,
nghĩa là không quá nhanh hoặc quá chậm. [Đúng]
e) Cần niệm rõ ràng, mọi người phải hòa với nhau,
không được người nhanh kẻ chậm. [Đúng]
f) Người có âm giọng quá đục hoặc quá sắc (the thé) cần
được nhắc nhở nên niệm nhỏ và ngồi xa đế tránh gây
xáo trộn người bệnh. [Đúng] 


33. Khi bệnh tình không còn chữa trị được nữa là đến
thời điểm khẩn thiết, gia đình cần chú ý làm những
việc sau đây: 

a) Sớm lo coi ngày giờ chôn cất, xây mộ hợp theo phong
thủy để người chết hưởng nhiều phước lạc. [Sai] 
b) Chuẩn bị mâm cỗ thết đãi chu đáo, hầu được trọn vẹn
việc ơn nghĩa thế gian, giúp người chết vui lòng nhắm
mắt ra đi. [Sai] 
c) Người thân trong gia đình bình tĩnh, thành tâm niệm
Phật cầu gia bị, không nên bi lụy hay ồn náo. [Đúng] 
d) Cần giấu bệnh nhân về sự thực đau lòng để họ còn
chút hy vọng mà sống cho hết những ngày còn lại.
[Sai] 
e) Chăm sóc cẩn thận để giúp người bệnh thoải mái và có
sức niệm Phật cầu vãng sanh. [Đúng] 
f) Gấp rút mời BHN đến trợ niệm, khai thị, điều giải oan
gia trái chủ, hóa giải chướng nạn. [Đúng] 
g) Thân quyến cần cộng tác chặt chẽ với BHN, thực hiện
đúng quy luật trợ niệm, giúp người bệnh giữ vững TínNguyện-Hạnh

vãng
sanh.
[Đúng]
 

34. Ngoài việc niệm Phật trợ duyên, BHN có thể làm
thêm:  

a) Cần cúng thí thực cho chúng đẳng vong linh, thập loại
cô hồn mỗi khi hộ niệm. [Sai] 
b) Cần trì thêm các chú như: chú Đại Bi, chú Lăng
Nghiêm, v.v... để pháp hộ niệm được mạnh hơn. [Sai] 
c) Cần tụng thêm các kinh như: A-Di-Đà, Địa Tạng,
Lương Hoàng Sám, v.v… thì việc hộ niệm sẽ hoàn
chỉnh hơn. [Sai] 
d) Nên nhắc nhở người bệnh và gia đình sớm làm tờ di
chúc cụ thể hầu tránh bị rắc rối khi người bệnh ra đi. 
[Đúng] 
e) Được phép sử dụng các loại công phu như: vận khí
công, thuật bấm huyệt, đọc thần chú để chuyển cảnh
giới cho thần thức. [Sai] 
f) Phải biết đến những đạo thuật tiếp dẫn thần thức vãng
sanh. [Sai] 
g) Các vị Tăng hoặc Ni tu hành nhiều đức độ có thể tiếp
dẫn được thần thức người bệnh vãng sanh. [Sai] 
h) Dặn dò người bệnh chỉ được đi theo A-Di-Đà Phật để
vãng sanh TPCL. [Đúng] 
i) Có thể dùng phương pháp cộng tu niệm Phật với địa
chung để trợ niệm. [Sai] 
j) Có thể sử dụng hệ thống loa, micro hoặc hệ thống
khuyếch đại âm thanh để hộ niệm và khai thị. [Sai] 
k) BHN cần phải phụ giúp chăm sóc, tắm rửa bệnh nhân.
[Sai] 
l) BHN cần nên phụ giúp việc bếp núc với gia đình. [Sai] 
m) Cần nhắc nhở gia đình lập bàn thờ thật trang nghiêm
để hộ niệm. [Sai] 
n) Không bắt buộc phải lập bàn thờ, nhưng treo tấm hình
A-Di-Đà Phật cho người bệnh thấy rõ là điều không
thể thiếu. [Đúng] 
o) Nếu nhà rộng rãi có thể lập bàn thờ đơn giản gần
phòng hộ niệm để gia đình lễ Phật cầu gia trì. [Đúng] 
p) Cần thiết trí hoa, quả, nhang, đèn... thật trang nghiêm
thì mới hộ niệm tốt. [Sai] 
q) Trước khi hộ niệm cần có nghi thức khai lễ trang
nghiêm mới hộ niệm được. [Sai] 
r) BHN nên quyên góp tiền bạc giúp đỡ những gia đình
bệnh nhân nghèo khó. [Sai] 
s) BHN cần phải lo luôn việc hậu sự, tang lễ thì công đức
mới trọn vẹn. [Sai] 
t) BHN nên nhận tiền trả ơn để tránh cho gia đình khỏi bị
ái ngại. [Sai] 
u) BHN khuyên gia đình phóng sanh hồi hướng cho oan
gia trái chủ để giải nạn, còn những gì có liên quan đến
tiền bạc thì nên từ chối là tốt nhất. [Đúng] 
 

35. Vấn đề dùng tấm hình của người bệnh để hộ niệm
từ xa: 

a) Điều này không đúng với pháp hộ niệm. Hàng phàm
phu không có năng lực làm điều này, nếu sơ ý dễ biến
thành vọng tưởng tai hại. [Đúng] 
b) Người bệnh cần người hộ niệm ở sát bên cạnh để niệm
Phật ra tiếng, hướng dẫn trực tiếp, hóa gỡ vướng mắc,
điều giải oán nạn mới được. [Đúng] 
c) Nếu người bệnh ở xa, người hộ niệm có thể hướng dẫn
qua điện thoại, nhưng cần phải có người trực tiếp bên
cạnh niệm Phật hộ niệm mới đúng pháp. [Đúng] 
d) Niệm lực siêu vượt không gian và thời gian, thì hộ
niệm trực tiếp hoặc từ xa đều có kết quả như nhau.
[Sai] 
e) Hộ niệm cần cụ thể và trực tiếp, nếu chấp lý bỏ sự thì
trong thời mạt pháp này hộ niệm không thể cứu được
ai. [Đúng] 
 

36. Vấn đề đi kinh hành chung quanh người bệnh để
hộ niệm: 

a) Nếu phòng hộ niệm rộng rãi đủ chỗ kinh hành thì có
thể được dùng cách này. [Sai] 
b) Không được đi kinh hành chung quanh người bệnh để
hộ niệm, vì sẽ làm cho khung cảnh hộ niệm bị xáo trộn,
người bệnh dễ bị chóng mặt, khó tập trung. [Đúng] 
c) Không được đi kinh hành chung quanh người bệnh để
hộ niệm, vì khi vừa tắt hơi thì mọi sự di chuyển gần
bên thân xác sẽ gây trở ngại rất lớn cho việc vãng
sanh. [Đúng] 
d) Chung quanh người bệnh rất cần sắp xếp chỗ ngồi cho
đại chúng ổn định, thanh tịnh niệm Phật mới tốt.
[Đúng] 

 
37. Vấn đề lạy Phật, nhiễu Phật chung quanh bàn thờ
Phật để hộ niệm: 

a) Có thể thiết lập một bàn thờ Phật riêng biệt trong gian
phòng khác cho đại chúng kinh hành niệm Phật.
[Đúng] 
b) Người gia đình nên thường xuyên lạy Phật cầu Phật 
tiếp dẫn người bệnh vãng sanh. [Đúng]
c) BHN đang có trách nhiệm thì ngồi niệm Phật bên cạnh
người bệnh, còn những người khác có thể lạy Phật
hoặc nhiễu Phật ở phòng khác rất tốt. [Đúng] 
 

38. Vấn đề chụp hình khi đang hộ niệm:
a) Tốt nhất là không cho phép chụp hình, vì chụp hình sẽ
có tiếng động và đèn chớp dễ làm động tâm người
bệnh và đại chúng. [Đúng]
b) Tối kỵ nhất là giai đoạn lâm chung, ánh chớp và tiếng
động của máy chụp hình có ảnh hưởng xấu đối với
người bệnh. [Đúng]
c) Cần hỏi qua người bệnh, nếu họ không phiền não thì
có thể chụp hình lưu niệm. [Sai] 
 

39. Vấn đề quay video khi đang hộ niệm:
a. Có thể quay video để làm tài liệu học tập, vì quay
video không tạo tiếng động, không lóe ánh sáng.
[Đúng]
b. Người quay không được dùng đèn pha chiếu vào thân
xác hoặc lấn tới trước người hộ niệm để quay. [Đúng]
c. Được phép quay, nhưng phải tuân theo sự cố vấn của
BHN, người quay không được gây tiếng động hoặc đi
lại quá nhiều. [Đúng]
d. Chỉ được quay khi người bệnh còn sống, tắt hơi rồi
không được quay. [Sai] 
 

40. Vấn đề sử dụng pháp khí khi hộ niệm: 
a) Bất cứ pháp khí nào cũng đều có thể được dùng để hộ
niệm khi cần. [Sai] 
b) Dùng khánh là thích hợp nhất cho việc hộ niệm vì
tiếng khánh thanh, trợ giúp thêm sự tỉnh táo. [Đúng] 
c) Nhiều người bệnh không thích tiếng khánh, thì ta có
thể dùng pháp khí khác thay thế cũng được. [Sai] 
d) Được dùng khánh để giữ nhịp niệm Phật, nhưng cần
theo dõi phản ứng của người bệnh, nếu họ không thích
lắm thì cũng không nên dùng. [Đúng] 
e) Được dùng khánh, nhưng người sử dụng cần chú ý
đừng để tiếng khánh lúc lớn lúc nhỏ, lúc đục lúc trong,
lúc tịt lúc vang... [Đúng] 
f) Nếu người bệnh thường xuyên bị hôn trầm, đánh vài
tiếng khánh bên tai có thể giúp họ tỉnh lại. [Đúng] 
g) Có thể dùng địa chung, hoặc dùng chuông và mõ kết
hợp thành địa chung để hộ niệm. [Sai] 
h) Tang, khơ, chuông, mõ và trống là đủ bộ pháp khí của
pháp cộng tu có thể kết hợp để hộ niệm được. [Sai] 
i) Được dùng khánh nhưng chỉ dùng ban ngày, không
được dùng ban đêm. [Sai] 
 

41. Vấn đề đồng phục khi hộ niệm:
a) Bắt buộc phải mặc áo tràng cho trang nghiêm. [Sai]
b) Bắt buộc không được mặc áo tràng. [Sai]
c) Hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của gia đình. [Sai]
d) Nên mặc áo tràng hoặc đồng phục thống nhất cho
trang nghiêm. [Đúng] 

 
Chương 2:
 
NGƯỜI BỆNH VÀ VẤN ĐỀ HỘ NIỆM 
 
Tu hành nhưng vô ý phạm nhiều sự sơ suất, thì chướng
nạn trùng trùng từ đây mà sinh ra. Muốn tránh chướng nạn
này hãy tìm ra những điều sơ suất mà sửa đổi liền. 
Đối với hàng phàm phu, sự sơ suất ít khi liên can đến
những lý đạo cao siêu, mà thường là những gì ở ngay bên
cạnh, cụ thể, thiết thực, đơn giản... những điều rất dễ thấy
nhưng vì không biết nên vô tình hầu hết đều bị vướng nạn,
làm mất phần vãng sanh một cách đáng tiếc!... 
Phương pháp hộ niệm vãng sanh giúp cho người niệm
Phật biết phát hiện những điều sơ suất của chính mình mà
tránh né, để ngày cuối cùng thực hiện được trọn vẹn tâm
nguyện vãng sanh TPCL.



1. Một số tương quan giữa người bệnh và hộ niệm.
a) Danh từ “Người Bệnh” ở đây là chỉ cho người đang
được hộ niệm vãng sanh. [Đúng]
b) Danh từ “Người Bệnh” cũng có hàm nghĩa rộng chỉ
chung cho tất cả chúng ta, vì ai cũng sẽ bệnh và cuối
cùng phải xả bỏ báo thân này. [Đúng] 
c) Người bệnh chỉ cần chịu niệm Phật thì sẽ được an
nhiên tự tại vãng sanh. [Sai] 
d) Người bệnh được vãng sanh hay không hoàn toàn phụ
thuộc vào tài năng của BHN. [Sai] 
e) Hộ niệm để tạo thuận duyên. Nguời bệnh phải giữ
vững tín tâm, chí thành niệm Phật và tha thiết cầu
vãng sanh Tịnh Độ mới được vãng sanh. [Đúng] 
f) Gia đình phải biết cách hỗ trợ tạo thuận duyên cho
người bệnh niệm Phật. Hộ niệm sẽ đóng vai trò tích
cực giúp người bệnh giữ được chánh niệm, vượt qua
nghiệp chướng mà vãng sanh. [Đúng] 
g) Ai cũng có thể niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, tự tại
vãng sanh không cần đến hộ niệm. [Sai] 
h) Người phàm phu hạ căn trong thời mạt pháp này nên
luôn luôn giữ tánh khiêm nhường, hiền lành, chí thành,
chí kính niệm Phật, tha thiết nguyện cầu vãng sanh
TPCL, và chuẩn bị sự hộ niệm càng sớm càng tốt mới
có cơ hội vãng sanh. [Đúng] 
i) Phải có một năng lực đặc biệt mới có thể hộ niệm
được. [Sai] 
j) Hàng phàm phu không thể hộ niệm cho người khác
vãng sanh được. [Sai] 
k) Chỉ có người tu hành đã chứng quả mới có tư cách hộ
niệm cho người vãng sanh. [Sai] 
l) Người phải có kiến thức Phật học cao mới có thể hộ
niệm được. [Sai] 
m) Người có lòng chí thành, tâm từ bi, biết rõ quy tắc 
pháp hộ niệm thì có thể hộ niệm được. [Đúng]  
n) Làm người tốt trong xã hội, ăn ở hiền lành chính là sự
tu hành thiết thực nhất. [Sai] 
o) Pháp tu giải thoát của Phật Giáo không thể định nghĩa
như sinh hoạt của một hội đoàn từ thiện xã hội.
[Đúng]
p) Người không tin sự vãng sanh không thể được vãng
sanh. [Đúng]
q) Người dù đã gây nên tội lớn nhưng biết hồi đầu kiệt
thành sám hối, niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ vẫn có thể
được vãng sanh. [Đúng]  
r) Người chết rồi mà thân xác mềm mại thì chắc chắn
được vãng sanh. [Sai]
s) Người sợ chết không thể vãng sanh. [Đúng]
t) Người chăm sóc sức khỏe rất cẩn thận, lo lắng từng
chút về bệnh hoạn, thì rất dễ được tự tại vãng sanh.
[Sai]
u) Quá lo sợ về bệnh hoạn là chướng nạn lớn cho sự
vãng sanh. [Đúng]
v) Người học rộng, hiểu nhiều, niệm Phật rất dễ được
vãng sanh. [Sai]
w) Người có kiến thức thế gian rộng thường vướng nạn
thế trí biện thông, ít tin Phật pháp, rất khó vãng sanh.
[Đúng]
x) Những người tánh tình hiền hậu biết niệm Phật, tha
thiết nguyện vãng sanh lại được hộ niệm nữa thì rất dễ
được vãng sanh. [Đúng] 
y) Được vãng sanh là do mạng số định sẵn, chứ đâu phải
muốn vãng sanh mà được. [Sai] 
 

2. Tu pháp môn niệm Phật, cần xác định lập trường
như thế nào? 

a) Pháp môn niệm Phật đơn giản, dễ hành, nhưng chỉ
thích hợp với các cụ già cả mà thôi. [Sai] 
b) Chỉ có hàng thượng căn thượng trí mới niệm Phật một
đời này vãng sanh, còn hàng hạ căn cần phải tu thêm
nhiều hạnh khác hỗ trợ mới hy vọng được thành tựu.
[Sai] 
c) Phải giữ vững niềm tin, chuyên lòng niệm Phật cầu
sanh Tịnh-Độ. Lâm chung người nào làm được đầy đủ
Tín-Nguyện-Hạnh thì được vãng sanh. [Đúng] 
d) Niệm Phật cần chuyên nhất, đừng nên quá xen tạp mà
đường vãng sanh gặp nhiều trở ngại. [Đúng] 
e) Người tu hành phải có tâm từ bi cứu độ chúng sanh, nỡ
nào lại cứ lo chuyện vãng sanh cá nhân mà bỏ rơi
chúng sanh quá khổ sở trên thế gian này. [Sai] 
f) Đường thành đạo chính mình còn mơ hồ, việc thoát ly
sanh tử luân hồi chính mình chưa vững, thì làm sao có
thể cứu độ được chúng sanh. Nên phải lo tu hành và
cầu vãng sanh trước. [Đúng] 
g) Chưa vãng sanh thì chưa được thành đạo, chưa thành
đạo thì chưa có thể cứu độ được chúng sanh. [Đúng] 
h) Người tâm chưa khai, ý chưa mở, thường hiểu sai lời
Phật dạy. Nếu dắt dẫn chúng sanh theo ý riêng của 
mình rất dễ bị sai đường, chịu vấn đề nhân quả rất
nặng. [Đúng] 
i) Quyết lòng một đời này vãng sanh thành Phật, thành
Phật rồi mới có khả năng cứu độ chúng sanh. Niệm
Phật để vãng sanh là Chánh Hạnh của người Niệm
Phật. [Đúng] 
j) Khuyên người niệm Phật cầu vãng sanh TPCL là giúp
người phàm phu thành Phật, công đức vô lượng vô
biên. [Đúng] 
k) Bố thí, làm thiện, cúng dường, xây chùa... là cứu độ
chúng sanh. [Sai] 
l) Bố thí, làm thiện, cúng dường, xây chùa... đều là tu
phước báu Nhân Thiên hữu lậu, chứ không phải là
pháp thoát ly sanh tử luân hồi. [Đúng] 
m) Hàng phàm phu mà nghĩ rằng một đời vãng sanh thành
Phật là vọng tưởng. [Sai] 
n) Người phàm phu quyết lòng niệm Phật, tin vững,
nguyện thiết, lâm chung 10 niệm tất sanh thành Phật.
Đây là lời Phật dạy. [Đúng]  
o) Khuyên người niệm Phật với đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh
là thực hành một đại pháp cứu độ chúng sanh trong
thời này. [Đúng] 
 

3. Niệm Phật với dụng ý nào mới đúng chánh pháp?
a) Niệm Phật để mở luân xa, luyện điển khí, đả thông
kinh mạch. [Sai]
b) Niệm Phật để cầu hết bệnh, thân thể tráng kiện, sống 
lâu trường thọ. [Sai]
c) Niệm Phật cầu cảm ứng, được thấy Phật Bồ-Tát
thường hiện thân. [Sai]
d) Niệm Phật buông xả vạn duyên cầu vãng sanh TịnhĐộ.
[Đúng]

e) Niệm Phật cầu mua mau bán đắt, thăng quan tiến chức.
[Sai]
f) Niệm Phật không hồ nghi, không gián đoạn, không xen
tạp. [Đúng]
g) Niệm Phật không được uống thuốc vì còn uống thuốc
thì còn sợ chết. [Sai]
h) Đau bệnh không uống thuốc để chịu chết là hành động
tự tử, sai chánh pháp. [Đúng]
i) Đau bệnh cần phải uống thuốc, nhưng vẫn quyết lòng
niệm Phật cầu vãng sanh. [Đúng]
j) Niệm Phật cầu cho hết nghiệp chướng để được vãng
sanh. [Sai]
k) Niệm Phật cầu cho hết vọng tưởng mới có thể vãng
sanh. [Sai]
l) Niệm Phật phải nhất tâm bất loạn mới được vãng sanh.
[Sai] 
m) Người niệm Phật khi lâm chung giữ vững đầy đủ tín
nguyện hạnh thì được vãng sanh. [Đúng] 
 

4. Những điều gì có thể gây chướng ngại việc vãng
sanh?  

a) Niệm Phật cầu phước cầu lộc, cầu hết bệnh chứ không 
cầu vãng sanh gây chướng ngại cho việc vãng sanh.
[Đúng] 
b) Gia đình cản trở, bạn hữu nói chuyện sai lầm, đồng
tham tạo nghịch duyên... làm chướng ngại việc vãng
sanh. [Đúng] 
c) Lâm chung bệnh khổ hành hạ, nghiệp chướng bức
bách... làm cho tâm hồn điên đảo quên mất niệm Phật
cầu vãng sanh. [Đúng] 
d) Lâm chung oán thân trái chủ hãm hại trả thù làm cho
tâm hồn khủng hoảng rối loạn. [Đúng] 
e) Tâm còn quyến luyến tình thân, thương con nhớ cháu,
tham tiếc tài sản... làm chướng ngại cho việc vãng
sanh [Đúng] 
f) Súc vật như chó, mèo... nuôi trong nhà cũng thường
gây trở ngại cho việc hộ niệm vãng sanh. [Đúng] 
g) Niệm Phật mà còn sợ chết, sợ bệnh làm chướng ngại
lớn cho việc vãng sanh. [Đúng] 
h) Hộ niệm có thể hóa giải hầu hết những chướng nạn để
an toàn vãng sanh, nhưng vì không được hộ niệm nên
dễ bị thọ nạn, mất phần vãng sanh. [Đúng] 
 

5. Cụ thể, hàng phàm phu tội chướng quá nặng làm
sao được vãng sanh? 

a) Niệm Phật phải chứng đắc cảnh giới nhất tâm bất loạn.
[Sai] 
b) Phải lo chu tất việc hậu sự, cẩn thận cầu siêu 7 thất thật
long trọng. [Sai] 
42
 
Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm 
c) Phải chí tâm chuyên nhất niệm Phật cầu vãng sanh và
cẩn thận chuẩn bị hộ niệm như lý như pháp. [Đúng] 
d) Phải nghiên cứu tất cả kinh điển để thông suốt đạo lý
mà giải thoát. [Sai] 
 

6. Người niệm Phật tha thiết muốn vãng sanh TPCL,
thường: 

a) Tự tại với bệnh hoạn, an nhiên trước sự sống chết,
không lo âu, không sợ hãi. [Đúng] 
b) Tinh thần dễ ổn định khi lâm chung. Nếu được hộ niệm
thì rất dễ được vãng sanh. [Đúng] 
c) Được Phật thương xót ban cho phước như Đông Hải,
thọ tỉ Nam Sơn. [Sai] 
 

7. Vấn đề tự tại với bệnh khổ:
a) Người niệm Phật không bao giờ bị đau bệnh. [Sai]
b) Người niệm Phật có thể bị bệnh, nhưng không bao giờ
bị căn bệnh hành hạ đau nhức. [Sai]
c) Người niệm Phật khi bệnh đến không nên sợ hãi, hãy
an nhiên chấp nhận. [Đúng]
d) Bị bệnh hành hạ đau nhức nhưng không lo, không sợ.
Tinh thần vẫn vững vàng niệm Phật chờ ngày vãng
sanh. [Đúng]
e) Bệnh nặng không còn chữa trị được nữa, thì quyết
buông xả niệm Phật cầu vãng sanh, không cần lo chạy
chữa cầu may theo kiểu còn nước còn tát. [Đúng]
f) Biết mình bệnh nặng, càng đau nhức càng quyết lòng
niệm Phật, càng vui mừng vì biết mình được sớm vãng
sanh. [Đúng] 
g) Không cầu bệnh đến. Không cầu hết bệnh. Nghiệp
chướng đến hay đi kệ nó. Cứ một lòng niệm Phật cầu
vãng sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
h) Bệnh khổ đến nhưng ta không than, không buồn. Hãy
nghĩ rằng đúng ra ta phải chịu nạn nặng nề ở tam ác
đạo, nhưng giờ đây trở thành bệnh nhẹ để trả thêm
một lần cuối nữa rồi về TPCL thành đạo. [Đúng] 
i) Có duyên bệnh đến ta trả. Nghĩ rằng trả trước khỏi trả
sau, đến khi lâm chung bớt nghiệp khổ. Tâm hồn luôn
luôn an nhiên niệm Phật cầu vãng sanh  TPCL.
[Đúng] 
 

8. Vấn đề tự tại với sống chết: 
a) Ta niệm Phật rồi sẽ đứng ra đi, biểu diễn sự vãng sanh
như chư Tổ Sư. [Sai] 
b) Ta sẽ không đau không bệnh, chắc chắn biết rõ ngày
giờ vãng sanh. [Sai] 
c) Khi ra đi chắc chắn ta sẽ tỉnh táo, mỉm cười chào biệt
mọi người rồi ngồi mà vãng sanh. [Sai] 
d) Tự tại với sống chết là nhất định không sợ chết. Xác
thân vô thường hãy trả về cho vô thường, ngày mãn
báo thân ta vãng sanh về TPCL. [Đúng] 
e) Bị bệnh lâu quá, chờ hoài mà chưa được vãng sanh,
thôi thì ngừng ăn để đi sớm, không sợ chết. [Sai]  
f) Tự tại là nếu bị bệnh khổ dài lâu ta cứ tranh thủ từng
giờ niệm Phật cầu vãng sanh, ngày nào ra đi khỏi cần
lo tới, vì thân mạng đã có số phần rồi. [Đúng] 
 

9. Vấn đề lạy Phật cầu xin hết chướng ngại:
a) Nhờ lòng thành cầu xin mà Phật sẽ giúp cho chúng ta 
hết chướng ngại. [Sai]
b) Tự mình phải buông bỏ phân biệt chấp trước thì mới
hết chướng ngại. [Đúng]
c) Chướng ngại từ trong tâm ứng hiện ra chứ không phải
Phật ban phát hay kết tội. [Đúng] 
 

10. Một vài ví dụ về sự chướng ngại do chính tâm mình
tạo ra: 

a) Sợ chết thì khi lâm chung tâm hồn sẽ bấn loạn mà mất
vãng sanh. [Đúng] 
b) Đau lưng liền cầu xin Phật cứu nạn, đau đầu liền cầu
xin Phật cứu nạn... Đây là dạng người sợ bệnh!
Chuyên cầu hết bệnh sẽ mất vãng sanh. [Đúng] 
c) Quyến luyến con cháu, khi lâm chung cứ nhớ đến con
cháu thì mất vãng sanh. [Đúng] 
d) Tiếc tiền, nghĩ nhớ đến gia tài nhà cửa thì mất vãng
sanh. [Đúng] 
e) Người sợ ma, thì khi lâm chung ma quái sẽ đến quấy
phá mất vãng sanh. [Đúng] 
f) Người lâm chung cứ nghĩ về nghiệp chướng của mình
thì mất vãng sanh. [Đúng] 
g) Nói chung, ý niệm cuối cùng sẽ định đoạt cảnh giới
tương lai. Nếu không buông bỏ phân biệt chấp trước
thì chướng ngại cho việc vãng sanh. [Đúng] 
 

11. Bệnh nặng không còn cách nào chữa được nữa,
người muốn vãng sanh nên làm gì? 

a) Không nên buồn, hãy cố gắng vui vẻ mà sống được 
ngày nào hay ngày đó. [Sai]
b) Buông xã vạn duyên, quyết tâm niệm Phật cầu vãng
sanh TPCL. [Đúng] 
c) Nhanh chóng liên lạc với một BHN đến niệm Phật,
khai thị, hướng dẫn để mình thực hiện chính xác
đường vãng sanh TPCL. [Đúng]
d) Thành tâm niệm danh hiệu Bồ-Tát Quán-Thế-Âm,
khẩn cầu Ngài từ bi cứu độ, tật bệnh sẽ tiêu trừ, tiêu tai
giải nạn. [sai]
e) Đừng nên thất vọng. Còn nước còn tát. Phải quyết lòng
tìm phương cứu chữa. [sai] 
 

12. Pháp hộ niệm cấm đụng chạm vào thân xác người
mới chết ít nhất 8 giờ đồng hồ vì lý do gì? 

a) Thời gian này thần thức có thể chưa rời khỏi xác, nếu
đụng đến làm cho họ rất đau đớn, dễ sanh tâm sân
giận mà bị đọa lạc. [Đúng] 
b) Những trường hợp đặc biệt như chết giữa đường, chết
trong nhà vệ sinh... thì đành phải chuyển thân đến chỗ
an toàn để hộ niệm, nhưng phải rất nhẹ nhàng và cần
lên tiếng xin lỗi và báo cho người chết biết trước.
[Đúng] 
c) Người nào tu hành giỏi rồi thì không cần quan ngại
lắm, cứ việc tắm rửa cho sạch sẽ để họ thoải mái theo
Phật. [Sai] 
d) Nếu tránh đụng chạm đến 12 giờ sau khi tắt thở thì tốt
hơn, an toàn hơn. [Đúng] 
 

13. Người không hiểu đạo thường vô tình tạo duyên
đọa lạc cho người chết, ví dụ: 

a) Ôm nắm, tắm rửa, thay áo quần, làm hô hấp... lúc vừa
tắt thở sẽ làm người chết bị đau đớn, hãi kinh mà đọa
lạc. [Đúng] 
b) Than khóc, kêu réo, gây xáo trộn lúc lâm chung sẽ làm
người chết bị rối loạn mà đọa lạc. [Đúng] 
c) Giết hại sanh vật đãi đằng, cúng tế vong linh làm cho
người chết bị nạn càng nặng nề hơn. [Đúng] 
d) Sợ bị trùng tang, nhét gạo nếp vào miệng, v.v... Tin dị
đoan mê tín, chạy theo tập tục sai lầm của thế gian
khiến cho người chết bị nạn. [Đúng] 
 

14. Vì sao pháp hộ niệm là “Đại Cứu Tinh“ cho chúng
sanh? 

a) Có thể giúp hóa giải rất nhiều chướng nạn, ngăn chặn
những tập tục sai lầm, giúp người lâm chung thoát
khỏi những cạm bẫy hiểm nghèo. [Đúng] 
b) Một pháp có thể cứu hàng phàm phu vượt qua nghiệp
chướng vãng sanh thành đạo. [Đúng] 
c) Vì người nào được hộ niệm cũng đều được vãng sanh.
[Sai] 
 

15. Hàng phàm phu cần chuẩn bị những gì để được
vãng sanh? 

a) Cần tu tâm địa hiền lành. Người càng hiền lành càng
dễ vãng sanh. [Đúng] 
b) Cần phát lồ sám hối nghiệp chướng. Kiệt thành sám
hối nghiệp chướng, niệm Phật mới dễ được vãng sanh.
[Đúng] 
c) Chuyên tu pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh. Vì thực
hành nhiều pháp môn thì tâm dễ bị phân tán, chủ định
yếu, khó vãng sanh. [Đúng]  
d) Cần chuyên nhất niệm Phật, tha thiết cầu vãng sanh
mới được vãng sanh. [Đúng] 
e) Cẩn thận chuẩn bị hộ niệm như lý như pháp. [Đúng]
f) Cần hộ niệm, nếu không hộ niệm dẫu cho niệm Phật
nhiều năm cũng khó thực hiện đường giải thoát trong
thời mạt pháp này. [Đúng] 
 

16. Vấn đề giúp đỡ người thân khi lâm chung dễ dàng
được vãng sanh TPCL: 

a) Ngay từ bây giờ hãy khuyên người thân niệm Phật và
nghiên cứu pháp hộ niệm liền, không nên chờ đợi.
[Đúng] 
b) Hằng ngày tự bản thân phải tinh tấn niệm Phật cầu
vãng sanh, thường xuyên  nhắc nhở nhau buông xả
càng nhiều càng tốt để tự hóa gỡ những chướng ngại.
[Đúng] 
c) Nói chung, tất cả những việc này đều liên quan đến
pháp hộ niệm, phải lo nghiên cứu nắm vững pháp hộ
niệm càng sớm càng dễ giúp người thân vãng sanh.
[Đúng] 
 

17. Vấn đề theo Phật vãng sanh:
a) Thấy được nhiều Phật, Bồ-Tát hiện thân tiếp dẫn thì
hãy theo các Ngài đi vãng sanh. [Sai]
b) Nếu thấy ông bà người thân đã chết hiện về tiếp dẫn,
thì nhất định không được đi theo. [Đúng]
c) Theo quang minh an hòa nhu nhuyễn của Phật, không
được đi theo ánh sáng chói chang của ma. [Sai]
d) Phải chờ A-Di-Đà Phật hiện thân giống như tấm hình
Phật A-DI-ĐÀ mà BHN treo trước mặt đến tiếp dẫn thì
đi theo Ngài để vãng sanh. [Đúng]
e) Không có A-Di-Đà Phật hiện thân, chỉ cần Bồ-Tát
Quán-Thế-Âm hoặc Đại-Thế-Chí đến chúng ta theo
các Ngài vãng sanh cũng được. [Sai]
f) Đức Bổn Sư Thích-Ca Mâu- Ni Phật hiện thân tiếp dẫn
mới an toàn. [Sai] 
 

18. Người phàm phu mà được thành tựu đạo nghiệp
trong đời này chính là nhờ: 

a) Chí thành chí kính chuyên nhất niệm Phật cầu vãng
sanh. [Đúng] 
b) Không vọng cầu, vọng tưởng, hiếu kỳ... Luôn giữ tâm
khiêm cung kính cẩn cầu xin A-Di-Đà Phật thương xót
tiếp độ. [Đúng] 
c) Kết hợp chặt chẽ thành từng nhóm để hộ niệm trợ
duyên khi lâm chung mới dễ vượt qua chướng nạn, an
toàn vãng sanh TPCL. [Đúng] 
 

19. Sự thành tựu của việc tu hành được chứng minh cụ 
thể nhất khi:

a) Người đó xả bỏ báo thân lưu lại thân tướng an lành,
mềm mại, tươi hồng... thì ít ra họ cũng chắc chắn thoát
khỏi ba đường ác. [Đúng]
b) Thành tựu thuộc về tâm linh, thoại tướng thuộc về vật
chất, hai vấn đề này không liên quan nhau. [Sai]
c) Tướng tùy tâm sanh, tướng tùy tâm diệt. Người được
vãng sanh do sự gia trì của chư Phật Bồ-Tát mà tâm
hồn họ an lành ra đi mới thể hiện ra tướng tốt. [Đúng] 
 

20. Một người sau khi chết mà tướng ác hiển hiện là
hiện tượng báo trước rằng: 

a) Người đó khó có thể thoát khỏi những cảnh khổ trong
đời sau. [Đúng]  
b) Dù là người có tu hành, nhưng do vì không biết đường
giải thoát, lại bị nghịch duyên gây chướng ngại mà bị
nạn. [Đúng] 
c) Thân xác chỉ là thứ vật chất vô tri trước sau gì cũng sẽ
tan theo cát bụi, không liên quan gì tới đời kiếp tương
lai. [Sai]  
 

21. Nhờ hộ niệm mà nhiều người sau khi ra đi lưu lại
thoại tướng rất tốt đẹp, điều này chứng tỏ rằng: 

a) Hộ niệm là đúng với chánh pháp, dễ thực hành, nhưng
thành tựu lại rất cụ thể và vi diệu. [Đúng] 
b) Hộ niệm trở thành đại cứu tinh cho mọi người trong
thời mạt pháp, ai cũng có cơ hội thoát qua ách nạn
của nghiệp chướng. [Đúng] 
c) Hộ niệm là một pháp tu khế lý, khế cơ, đặc biệt rất hợp
với thời mạt pháp này. [Đúng] 
 

22. Mục đích của pháp môn Niệm Phật là:
a) Tích công tạo phước, cầu mong đời sau được trở lại
làm người tiếp tục tu hành cho đến ngày thành đạo.
[Sai]
b) Nương theo đại nguyện của A-Di-Đà Phật, đới nghiệp
vãng sanh thẳng về TPCL một đời viên mãn đạo quả.
[Đúng]
c) Đoạn diệt nghiệp-hoặc, tu chứng từng cấp cho đến
ngày minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. [Sai]
d) Tạo được sự an lạc trong hiện đời là được. Quá khứ đã
qua không cần nghĩ nữa, tương lai chưa đến lo tới ích
gì. [Sai] 
 

23. Đới nghiệp vãng sanh khác với tự lực tu chứng ở
những điểm gì? 

a) Vãng sanh là do Tín-Nguyện-Hạnh. Tự lực phải cần
đến khả năng tu chứng. [Đúng] 
b) Người hạ căn có đủ Tín-Nguyện-Hạnh vẫn được đới
nghiệp vãng sanh. Tự lực chỉ có hàng thượng căn mới
có thể thực hiện được, hàng hạ căn thì vô phương.
[Đúng] 
c) Vãng sanh là theo nguyện lực mà sanh về TPCL thành
đạo. Còn tự lực là do diệt nghiệp để chứng qua từng
cảnh giới một mà tiến lên. [Đúng] 
d) Vãng sanh là đi thẳng về TPCL để thành đạo nên 
nhanh chóng. Tự lực là phải tự vượt qua nhiều thử
thách khó khăn nên thời gian rất lâu. [Đúng] 
e) Vãng sanh là nhờ Phật lực tiếp độ nên dễ. Tự lực phải
đoạn sạch nghiệp chướng để thoát tam giới nên rất
khó. [Đúng] 
f) Còn nghiệp phải trả nghiệp, không có chuyện đới
nghiệp vãng sanh. [Sai] 
g) Vãng sanh về TPCL không phải chứng đắc mới được
vãng sanh. Tự lực tu chứng phải tự mình chứng đắc
mới được. [Đúng] 
h) Đới nghiệp vãng sanh thành tựu do Tín, Nguyện,
Hạnh. Tự lực tu chứng thành tựu do đoạn hết nghiệp
hoặc. [Đúng] 
i) Vãng sanh dành cho người yếu đuối, kém nghị lực. Tự
lực mới xứng đáng là kẻ trượng phu. [Sai] 
j) Vãng sanh là pháp tu thấp kém, phải chờ tới lúc chết
mới được vãng sanh. Tự lực cao hơn, tích tắc có thể
thành Phật. [Sai] 
k) Vãng sanh là do định số, người nào có số vãng sanh
mới được vãng sanh. Tự lực là do ý chí kiên dũng mà
thắng định số. [Sai] 
l) Đới nghiệp vãng sanh là vượt qua sáu đường luân hồi,
nghiệp chướng tự nó bế tắc. Tự lực phải tự mình đoạn
diệt nghiệp chướng để tiến tới. [Đúng] 
m) Vãng sanh xong đương nhiên ta sẽ trở thành Bồ-Tát.
Còn kẹt lại đây ta vẫn còn là phàm phu sanh tử luân
hồi. [Đúng] 
n) Về TPCL ta chỉ hưởng an vui cho cá nhân. Ở lại đây ta
mới có cơ hội cứu độ chúng sanh. [Sai] 
o) Về TPCL thành đạo ta mới cứu được chúng sanh. Ở tại
đây ta bị chúng sanh lôi đi đọa lạc. [Đúng] 
p) Đới nghiệp vãng sanh thành Phật thì dễ tu. Tự lực tu
chứng thành Phật quá khó. [Đúng] 
q) Vãng sanh xong thì an ổn tu hành cho đến ngày thành
Phật, không bị chết, gọi là một đời thành Phật. Ở cõi
này tu chưa được gì thì chết mất, phải chịu luân hồi
đọa lạc!... [Đúng] 
r) Về TPCL ta thoát qua sanh tử luân hồi. Ở lại đây thì
vấn đề sanh tử vẫn còn nguyên vẹn. [Đúng] 
s) Có nhân thì phải có quả. Đới nghiệp vãng sanh thành
Phật là không hợp với lý Nhân-Quả. [Sai] 
t) Người niệm Phật vãng sanh là thực hiện lý đạo cao tột
của Nhân-Quả. [Đúng] 
u) Cõi Tịnh-Độ rất thanh tịnh. Mang nghiệp mà sanh về
đó là không đúng với lý Tịnh-Độ. [Sai] 
v) Đới nghiệp vãng sanh là người có tạo nghiệp nhưng
nay tâm đã giác ngộ. Tâm giác ngộ thì tâm niệm Phật
vãng sanh, chứ không phải nghiệp chướng vãng sanh.
[Đúng] 
w) Phải tu vô lượng kiếp mới thành Phật, làm gì có
chuyện tu một đời thành Phật. [Sai] 
x) Nghiệp Lực không có tự tánh nên không thể chủ động,
còn Tâm Lực có tự tánh nên chủ động mà đi vãng
sanh. [Đúng] 
y) Về TPCL sống trong cảnh giới của Pháp Tánh nên một
đời thành đạo. Còn kẹt lại đây ta sống trong cảnh giới
ô trược nên đời đời chịu nạn. [Đúng] 
z) Về TPCL ta tu với chư đại Bồ-Tát bất thoái chuyển nên
một đời thành đạo. Tại cõi Ta-Bà ta tu với phàm phu
nên khó thoát cảnh phàm phu. [Đúng] 
 

24. Những đáp án thích hợp cho người tu hành trong
thời mạt pháp này: 

a) Thời mạt pháp mà không niệm Phật, thì ức triệu người
tu hành khó tìm ra một người chứng đắc. [Đúng] 
b) Ai cũng có thể  niệm Phật đến “Nhất Tâm Bất Loạn“
tự tại vãng sanh, không cần hộ niệm. [Sai] 
c) Chí thành chí kính niệm Phật là đạo nhiệm mầu để
vãng sanh, đừng nên khởi tâm thượng mạn mà dễ bị
nạn. [Đúng] 
d) Niệm Phật đạt được “Niệm Bất Niệm“ rất dễ, chắc
chắn sẽ vãng sanh, không cần hộ niệm. [Sai] 
e) Hiếu kỳ rất dễ bị ma nạn. Chỉ vì tâm thượng mạn mà
dễ bị ma chướng phá hoại, gạt vào những cảnh giới
chứng đắc giả. [Đúng] 
f) Nếu niệm Phật được “Nhất Tâm Bất Loạn“ thì cứ khoe
ra cho nhiều người tôn kính. [Sai] 
g) Chưa chứng đắc mà khoe rằng chứng đắc là tội đại
vọng ngữ, nếu không sám hối kịp thời sẽ bị đại nạn.
[Đúng] 
h) Đã chứng đắc rồi thì cứ biểu diễn thần thông cho mọi 
người thấy mà phát khởi tín tâm vào Phật pháp. [Sai] 
i) Dùng thần thông chiêu nạp tín đồ không phải là chánh
đạo. [Đúng]
j) Muốn an toàn thì phải giữ hạnh khiêm cung, kết nhóm
đồng tu hộ niệm cho nhau. [Đúng]
k) Đừng quá lo về phiền não, đừng chú tâm diệt nghiệp.
Hãy tập buông xả, thành tâm niệm Phật cầu nguyện
vãng sanh TPCL, thì phiền não tự hết. [Đúng]
l) Càng có phiền não càng nhận rõ mình còn phàm phu.
Hãy quyết lòng niệm Phật, chú trọng hộ niệm để có cơ
hội vãng sanh. [Đúng]  
m) Người phàm phu hãy chuyên nhất niệm Phật cầu vãng
sanh thì đường vãng sanh vững vàng hơn là tu tập
nhiều pháp. [Đúng] 
 

25. Khinh thường pháp hộ niệm là một sơ suất rất lớn,
tại sao? 

a) Tự cô lập mình, dễ bị oán thân trái chủ tự do đánh phá
không ai điều giải. [Đúng] 
b) Lúc lâm chung chướng nạn chập chùng, cạm bẫy trùng
trùng rất dễ bị nạn. [Đúng] 
c) Lúc lâm chung không có người khai thị hướng dẫn
đúng đường, bị nghịch duyên lôi kéo theo đường đọa
lạc mà đành chịu oan uổng một đời tu hành. [Đúng] 
 

26. Pháp môn nào của Phật cũng vi diệu cả, nhưng xét
về sự thành tựu thì: 

a) Có pháp quá cao, chỉ dành cho hàng thượng trí tu trì, 
người hạ căn rất khó thực hành nổi. [Đúng]
b) Có pháp quá dễ thực hiện, nhưng không có mục đích
giải thoát. [Đúng]
c) Hàng phàm phu phải cẩn thận tuyển chọn pháp môn
vừa khế lý vừa khế cơ thì đường tu hành mới thành tựu
được. [Đúng]
d) Pháp môn niệm Phật là pháp duy nhất cứu độ khắp cả
ba căn thượng trung hạ một đời giải thoát thành đạo.
[Đúng] 
 

27. Chúng sanh trong thời này nên chọn pháp “Niệm
Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh “, vì sao? 

a) Sự thành tựu của pháp hộ niệm đã được chứng minh
quá rõ rệt, thực hành dễ dàng, phương pháp rất đơn
giản cụ thể. [Đúng] 
b) Những pháp môn tự lực thực hành quá khó nên sự
thành tựu quá ít ỏi! Người phàm phu muốn được giải
thoát thì nên cẩn thận hộ niệm mới an toàn. [Đúng] 
c) Hiện tượng người chết bị đọa lạc quá nhiều!... Thực sự
đây là sự cảnh cáo nghiêm khắc cho tất cả chúng ta.
[Đúng] 
d) Người phàm phu nghiệp nặng không thể tự lực thoát
nạn, nhưng nhờ hộ niệm mà sự vãng sanh đã hiển hiện
quá nhiều. Rất đáng được tin tưởng. [Đúng] 
e) Những người hộ niệm có năng lực trừ ma yếm quỷ, có
họ đến hộ niệm thì chúng ta yên tâm vãng sanh. [Sai] 
f) Những người hộ niệm chỉ với lòng thành đến bên cạnh 
chúng ta niệm Phật giúp ta giữ chánh niệm, giúp ta
điều giải oan gia trái chủ. [Đúng]  
g) Vãng sanh TPCL chính là pháp mà Phật, Bồ-Tát tuyển
chọn cho chúng sanh tu hành trong thời mạt pháp này.
[Đúng] 
 

28. Muốn cuộc hộ niệm thành công, thì giữa người hộ
niệm và người bệnh cần đến yếu tố nào? 

a) Người bệnh phải tôn trọng và thành khẩn nghe lời
người hộ niệm. Người hộ niệm thương yêu và thành
khẩn hộ niệm cho người bệnh. [Đúng] 
b) Người bệnh mà tỏ ra khinh thường người hộ niệm, thì
hộ niệm sẽ thất bại. [Đúng] 
c) Người bệnh tự niệm và người hộ niệm phải hòa hợp
nhau mới dễ được cảm ứng đến Phật lực gia trì tiếp độ
vãng sanh. [Đúng] 
 

29. Những ai cần nghiên cứu phương pháp hộ niệm
vãng sanh? 

a) Chỉ dành cho những người phát tâm đi hộ niệm mà
thôi. [Sai] 
b) Nhà nhà biết đến, người người biết đến pháp hộ niệm
vãng sanh thì mới dễ giúp được nhiều người và giúp cả
chính mình vãng sanh TPCL. [Đúng] 
c) Khi bị bệnh nặng mới nghiên cứu tới, còn bình thời thì
không cần. [Sai] 
 

30. Người bệnh rất cần nghiên cứu pháp hộ niệm, tại 
sao?

a) Biết rõ những gì cần làm để chính ta thực hiện mà
vãng sanh. [Đúng]
b) Biết rõ những cạm bẫy mà chính ta có thể mắc phải để
tránh. [Đúng]
c) Biết rõ những sơ suất mà người khi lâm chung thường
xuyên phạm đến để lo tu sửa ngay từ bây giờ. [Đúng] 
 

31. Ấn Quang tổ sư khai thị: “Một đạo tràng nào giúp
được một người vãng sanh mới được gọi là đạo tràng
thành tựu, chứ không phải là nơi gieo duyên cho
hàng vạn người tới lui tu tập“, theo lời khai thị này
thì: 

a) Đạo tràng đông người thì không thể thành tựu. [Sai]
b) Đạo tràng đông người thì không phải chánh pháp. [Sai]
c) Chỉ có hộ niệm vãng sanh là đúng chánh pháp. [Sai]
d) Chính những BHN giúp người vãng sanh đã có sự
thành tựu rất cụ thể trong thời này. [Đúng] 
 

32. Người tu hành thời này rất khó thoát nạn là do
nguyên nhân gì? 

a) Chọn pháp tu không hợp căn tánh, đường tu không
vững, hướng về không rõ nên không thể thành tựu.
[Đúng] 
b) Phàm phu nghiệp nặng chướng sâu mà sơ ý không
chuẩn bị hộ niệm cẩn thận khi lâm chung nên khó
thoát nạn. [Đúng] 
c) Chùa chiền quá ít, không có chỗ để tu hành. [Sai] 
 

33. Những vấn đề khác về người tu học Phật trong thời
này: 

a) Căn tánh yếu mà tu theo các pháp quá cao thành ra
thất bại. [Đúng] 
b) Không hiểu pháp hộ niệm nên thường phạm nhiều điều
sai lầm mà bị nạn. [Đúng] 
c) Nếu đã nắm vững quy luật của pháp hộ niệm rồi thì có
thể không cần hộ niệm nữa. [Sai] 
d) Bây giờ biết rõ pháp hộ niệm, nhưng khi lâm chung tự
mình khó có thể thực hiện được, nên cần phải được hộ
niệm. [Đúng] 
e) Những lý luận lúc bình thường đến lúc lâm chung
không thể ứng dụng được vì các căn tán loạn, không
còn sáng suốt được. [Đúng] 
f) Tâm là Phật, Phật là tâm. Trong tâm đã có Phật thì
không cần niệm Phật A-Di-Đà? [Sai] 
g) Phàm có tướng đều là hư vọng, TPCL có tướng vậy
TPCL không có thực. [Sai] 
h) Bình thường không tu hành, chờ lâm chung mời BHN
cũng khó giúp được gì. [Đúng].   
i) Pháp môn vô lượng, phải học càng nhiều pháp môn
càng tốt. [Sai]   
j) Thực hành nhiều pháp môn thì tâm thường chao đảo,
không có chỗ định, không tốt cho hàng phàm phu.
[Đúng] 
 

34. Nhiều vị tổ sư khi lâm chung vẫn phải dặn dò hàng 
đệ tử vây quanh hộ niệm. Tại sao?

a) Có lẽ các Ngài còn sợ chết. [Sai]
b) Chủ tâm nhắc nhở cho hàng đệ tử tầm quan trọng của
pháp hộ niệm. [Đúng]
c) Chư tổ sư thị hiện giáo dục, làm tấm gương tốt cho
chúng ta, vừa cẩn thận ngăn ngừa nghịch duyên bất
ngờ. [Đúng] 
 

35. Người phàm phu muốn vãng sanh TPCL có nên
nguyện trả hết nghiệp không?  

a) Không nên nguyện trả hết nghiệp!...Vì cầu hết nghiệp
mà nghiệp không thể hết thì phải theo nghiệp thọ nạn.
[Đúng] 
b) Rất cần, vì phải trả hết nghiệp chướng thì mới vãng
sanh TPCL được. [Sai] 
c) Được cầu trả hết nghiệp, nhưng không được phép quên
cầu vãng sanh TPCL. [Sai] 
d) Khi còn mạnh khỏe thì cầu trả hết nghiệp, khi bệnh
nặng thì chỉ cầu vãng sanh TPCL thôi. [Sai] 
e) Đầy đủ Tín Nguyện Hạnh thì mới được vãng sanh.
Nghĩa là chỉ cầu vãng sanh, không được cầu trả hết
nghiệp.  [Đúng] 
 

36. Tu hành phải theo đúng lời Phật dạy, đúng lời Tổ
khuyên mới có thể được thành tựu. Có nghĩa là: 

a) Khi trong nhà có người chết phải chú trọng coi ngày
giờ chôn cất, tìm thầy về giải nạn trùng tang. [Sai] 
b) Phật dạy thời mạt pháp này phải niệm Phật mới có thể 
thành tựu. Ta quyết niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ là
chính xác. [Đúng] 
c) Muốn an toàn để thành tựu trong thời này thì tu hành
KHÔNG được hiếu kỳ, đừng thấy điều gì lạ lạ cũng
làm thử. [Đúng]  
d) Tu hành không thể chạy theo cảm tình hay vị nể, mà
phải làm đúng theo lời Phật dạy, niệm Phật để lo cứu
huệ mạng của chính mình. [Đúng] 
e) Niệm Phật Hộ Niệm đã chứng minh cụ thể sự vãng
sanh đúng lời Phật và Tổ dạy, chúng ta không được hồ
nghi. [Đúng] 
f) Cần tìm BHN có năng lực đến niệm Phật giải nghiệp,
thì nghiệp chướng có thể tiêu trừ, tiêu tai giải nạn.
[Sai] 
 

37. Người có nhiều năm công phu niệm Phật khá tốt,
nhưng vẫn cần những người hộ niệm trợ duyên, vì
sao? 

a) Lúc lâm chung thường đầu óc không còn sáng suốt,
định lực tiêu tan, oan gia trái chủ cài bẫy hãm hại làm
cho tâm hồn thất điên bát đảo không giữ được chánh
niệm. [Đúng] 
b) Giây phút cuối đời thân tàn sức kiệt, lại bị bệnh khổ
hành hạ có thể quên niệm Phật cầu vãng sanh nên cần
hộ niệm. [Đúng] 
c) Người hộ niệm nắm vững quy luật trợ niệm, biết cách
hướng dẫn, hóa giải chướng nạn, có thể giúp cho mình 
giữ được chánh niệm mới có hy vọng vãng sanh.
[Đúng] 
 

38. Có người niệm Phật bị tẩu hỏa nhập ma, tại sao?
a) Vì niệm Phật không chí thành, thiếu khiêm hạ, tánh
hiếu kỳ, ham thích những cảnh giới hão huyền. [Đúng]
b) Vì niệm Phật với tâm ý thượng mạn, tham chứng đắc
nhanh chóng, thích phép lạ, ưa thần thông... [Đúng]
c) Vì niệm Phật mà trước đó không trì chú để trị ma
chướng. [Sai]
d) Vì niệm Phật không cầu vãng sanh mà ngày ngày đều
cầu xin được cảm ứng nên bị tẩu hỏa nhập ma. [Đúng] 
 

39. Niệm Phật đới nghiệp vãng sanh, dễ tu dễ chứng,
nhưng có nhiều người thất bại vì một sơ suất lớn,
đó là:  

a) Không chịu cố gắng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn.
[Sai] 
b) Không đoạn diệt cho sạch hết nghiệp chướng. [Sai]
c) Người không có số phần vãng sanh mà cứ đòi vãng
sanh. [Sai]
d) Không được hộ niệm cẩn thận để ngăn chặn sơ suất,
hóa giải chướng nạn, giải tỏa vướng mắc lúc lâm
chung. [Đúng] 
 

40. Thêm nhận thức về niệm Phật vãng sanh:
a) Hãy tự nhận mình là phàm phu, nghiệp chướng nặng
mà lập hạnh khiêm cung, thành thật niệm Phật. 
[Đúng]
b) Nghiệp báo, bệnh khổ sẽ là điều đương nhiên, hãy tự
tại đón nhận, không quá lo âu. [Đúng]
c) Quyết lòng trả cho hết nghiệp trong một đời này để
không còn bị chướng ngại sự vãng sanh TPCL. [Sai]
d) Quyết chí niệm Phật từ một ngày cho đến bảy ngày thì
ai cũng có thể được nhất tâm bất loạn. [Sai]
e) Tách ly đại chúng, tự tu một mình mới được thanh
tịnh. [Sai]
f) Người phàm phu thời mạt pháp không nên đóng cửa tự
tu một mình. [Đúng]
g) Kết nhóm đồng tu, hộ niệm cho nhau vãng sanh mới an
toàn. [Đúng]
h) Cần nghiêm chỉnh nghiên cứu kỹ lưỡng về pháp hộ
niệm để hộ niệm như lý như pháp. [Đúng]
i) Chỉ có người xuất gia niệm Phật mới được vãng sanh.
[Sai] 
j) Không phải tín đồ của Phật giáo thì không được vãng
sanh. [Sai]
k) Tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng
tộc... khi lâm chung thực hiện đầy đủ tín nguyện hạnh
của pháp môn niệm Phật đều được vãng sanh. [Đúng]
l) Người tự thấy mình đã chứng đắc thì chắc chắn được
vãng sanh. [Sai]
m) Người có tâm thượng mạn thì thường bị ma chướng.
[Đúng]
n) Người thực sự chứng đắc không bao giờ khoe trương, 
người khoe trương không thể là thực chứng được.
[Đúng] 
o) Người không tin có sự vãng sanh Tịnh-Độ, thì dù tu
hành rất giỏi cũng không được vãng sanh. [Đúng] 
p) Người tu lâu năm thì chắc chắn vãng sanh cao phẩm.
[Sai] 
q) Chỉ có người niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh-Độ mới
được vãng sanh. [Đúng] 
r) Đừng quá ham mê kiến giải. Kiến thức thế gian càng
rộng, càng mất duyên Tịnh-Độ. [Đúng]  
 

Chương 3:
 
NHẬN THỨC VỀ HỘ NIỆM


Cần nhận thức thật chính xác pháp Hộ Niệm Vãng 
Sanh mới thấy rõ đây là chánh pháp của Phật, một đại cứu
tinh cho tất cả mọi người trong thời mạt pháp  này được vãng
sanh TPCL, thành tựu đạo quả. Thật quí hóa vô cùng.



1. Tổng quát, pháp Hộ Niệm Vãng Sanh là gì?
a) Đây là phương pháp hướng dẫn thực hành pháp môn
niệm Phật cầu sanh TPCL một cách chính xác, cụ thể,
đúng lúc. [Đúng]
b) Khi lâm chung hướng dẫn người bệnh giữ vững tín
tâm, giữ vững tâm nguyện vãng sanh, giữ vững câu
Phật hiệu cầu sanh Cực-Lạc. [Đúng]
c) Trực tiếp trợ duyên, điều giải oán nạn, hóa gỡ những
vướng mắc giúp người bệnh khi lâm chung giữ chánh
niệm để được vãng sanh TPCL. [Đúng]
d) Pháp hộ niệm vãng sanh giúp người niệm Phật nắm
vững phương cách tu hành, biết rõ đường đi điểm về
không còn mông lung nữa. [Đúng] 
 

2. Pháp hộ niệm quan trọng như thế nào?
a) Thời mạt pháp chúng sanh nghiệp chướng quá nặng, 
khi lâm chung bị nghiệp chướng làm chủ, nếu không
nhờ hộ niệm thì khó ai có thể vượt qua nghiệp chướng
mà thoát ly sanh tử luân hồi. [Đúng] 
b) Thời mạt pháp chúng sanh trí cạn, vọng tưởng nhiều,
tu hành khó thể khai ngộ. Pháp hộ niệm giúp người
theo nguyện lực mà vãng sanh thành Phật. [Đúng] 
c) Phật dạy: “Vạn pháp duy tâm”. Pháp hộ niệm giúp
người ra đi thực hiện cụ thể đạo lý này bằng cách niệm
Phật cầu vãng sanh để được vãng sanh về TPCL thành
đạo. [Đúng]  
d) Khi lâm chung có rất nhiều cạm bẫy hiểm nghèo,
không hộ niệm khó ai có thể tự hóa giải được để thoát
nạn. [Đúng] 
e) Khi lâm chung nhiều hành nghiệp trong đời này và
nhiều đời kiếp trước ứng hiện về làm cho tâm hồn tán
loạn, không hộ niệm khó có ai tỉnh táo chọn được con
đường sáng sủa cho tương lai. [Đúng] 
f) Tuyệt đại đa số con người thời mạt pháp thuộc hàng
hạ căn, nhờ hộ niệm mà giúp họ có thể chủ động đi
vãng sanh thành đạo, tránh cảnh đọa lạc khổ đau vạn
kiếp. [Đúng] 
g) Hộ niệm rất quan trọng vì hễ hộ niệm thì chắc chắn
được vãng sanh. [Sai] 
 

3. Hiện tượng thiếu niềm tin vào pháp niệm Phật vãng
sanh: 

a) Phật dạy: “Nan tín chi pháp”, nghĩa là pháp rất khó 
cho chúng sanh tin tưởng, nên có người không tin
pháp niệm Phật vãng sanh là chuyện bình thường.
[Đúng] 
b) Hộ niệm vãng sanh không đúng với khoa học. [Sai]
c) Khoa học vật chất càng phát triển, tâm linh càng bị lu
mờ. Con người tham chấp kiến giải thế gian nên khó
giác ngộ Phật pháp. [Đúng]
d) Pháp môn niệm Phật vãng sanh mới xuất hiện sau này
chứ kinh Phật không nói đến. [Sai]
e) Phật dạy, người thiếu thiện căn không thể tin được
pháp niệm Phật vãng sanh. [Đúng]
f) Người chưa có cơ duyên gặp được hiện tượng vãng
sanh nên còn hồ nghi pháp niệm Phật vãng sanh.
[Đúng]
g) Người không tu, hoặc tu theo ngoại đạo nên không
hiểu Phật pháp thường đánh giá sai lầm chánh pháp
của Phật. [Đúng]
h) Nhiều người tu theo Phật Giáo, nhưng vì không hành
theo pháp môn Tịnh-Độ nên không hiểu thấu Lý và Sự
niệm Phật vãng sanh. [Đúng]
i) Có người tu học Phật nhưng hành trì bất định, hướng
giải thoát mông lung, cũng khó hiểu thấu pháp hộ
niệm vãng sanh. [Đúng] 
 

4. Nhận thức về pháp hộ niệm vãng sanh: 
a) Hộ niệm là một hình thức cầu siêu cho người chết.
[Sai] 
b) Hộ niệm là pháp hướng dẫn người sống cách tu hành
để vãng sanh TPCL. [Đúng] 
c) Người hạ căn phàm phu dẫu có niệm Phật cũng không
thể vãng sanh. [Sai] 
d) Pháp môn niệm Phật rộng độ ba căn, thánh phàm đều
được vãng sanh thành đạo. [Đúng] 
e) Hộ niệm là pháp mong cầu cho người bệnh chết sớm.
[Sai] 
f) Phàm phu thân mạng đã có định kỳ, hộ niệm có thể
giúp người lâm chung có cơ hội vượt qua sanh tử để
vãng sanh thẳng về TPCL. [Đúng] 
g) Pháp hộ niệm hướng dẫn cách thực hiện cụ thể, chính
xác pháp môn Tịnh-Độ. Đây là đại chánh pháp của
Phật để lại. [Đúng] 
h) Nhờ được hộ niệm mà có nhiều hiện tượng vãng sanh
xảy ra, tạo được ấn tượng rất tốt, chứng minh Phật
pháp nhiệm mầu. [Đúng] 
i) Người được hộ niệm thì được sống lâu, không bị chết
sớm. [Sai] 
j) Phàm phu thân mạng vô thường khi mãn phần thì phải
trả về cho vô thường, người nắm vững pháp niệm Phật
cầu vãng sanh thì được vãng sanh TPCL, chứ không
còn chết sống trong sáu đường luân hồi nữa. [Đúng] 
k) Người nào được hộ niệm thì thường tắt hơi sớm hơn
bình thường. [Sai] 
l) Chỉ có tự tử mới bị chết sớm hơn bình thường, còn hộ
niệm là giúp người bệnh đến kỳ mãn báo thân biết 
đường vãng sanh về TPCL. [Đúng]
m) Người nào được hộ niệm thì chắc chắn được vãng sanh
TPCL. [Sai]
n) Người được hộ niệm nhờ sự trợ duyên tốt, giúp họ có
thể giữ được chánh niệm mà được vãng sanh. [Đúng]
o) Được vãng sanh là do chính người bệnh thực hiện
đúng pháp niệm Phật, còn người hộ niệm chỉ hướng
dẫn, trợ duyên mà thôi. [Đúng]
p) Người nào được hộ niệm nếu không được vãng sanh
TPCL thì ít ra cũng sanh lên trời. [Sai]
q) Người được hộ niệm, ra đi lưu lại tướng lành tốt đẹp,
nếu không được vãng sanh TPCL thì ít ra cũng sanh về
cảnh giới lành. [Đúng]
r) Người được hộ niệm nếu tự mình không đủ TínNguyện-Hạnh
thì
không
được
vãng
sanh,
nhưng

thể

kết
được
duyên
lành
Phật
pháp.
[Đúng]

s) Người không tin tưởng Phật pháp, không làm theo sự
hướng dẫn của BHN, nhưng nhờ hộ niệm vẫn có thể
được vãng sanh. [Sai]
t) Chính người bệnh không tin tưởng, không tự thực hiện
đúng quy luật vãng sanh, thì dù được hộ niệm cũng
không thể vãng sanh. [Đúng]
u) Người nào được hộ niệm thì được hết bệnh. [Sai]
v) Người được hộ niệm, nếu phần số chưa mãn, nhưng
nhờ có Tín-Nguyện-Hạnh vững vàng mà bệnh khổ dễ
được bình phục. [Đúng]
w) Người được hộ niệm nếu thành tâm cầu hết bệnh thì 
mới hết bệnh. [Sai]
x) Người được hộ niệm nếu cầu xin hết bệnh thì bệnh
không hết mà phải mất phần vãng sanh. [Đúng]
y) Người trong gia đình cầu xin cho người bệnh hết bệnh,
thì người bệnh sẽ mất vãng sanh. [Sai]
z) Người trong gia đình cầu xin cho người bệnh hết bệnh,
sự cầu nguyện này dễ làm cho người bệnh thoái tâm
mà mất vãng sanh. [Đúng]
aa) Một người phải có năng lực đặc biệt mới có khả năng
hộ niệm cho người khác vãng sanh. [Sai]
bb) Người hộ niệm không cần một năng lực đặc biệt nào
cả, chỉ cần có tín tâm, lòng thành kính và nắm vững
quy luật hộ niệm để hướng dẫn đúng pháp giúp người
bệnh tự thực hành lấy để được vãng sanh. [Đúng]
cc) Một người tu hành đã chứng đạo mới có tư cách hộ
niệm cho người khác vãng sanh. [Sai]
dd) Một người chân chánh tu hành khi đi hộ niệm có ảnh
hưởng rất tốt tới người bệnh. [Đúng]
ee) Lòng chí thành và tin tưởng của người hộ niệm ảnh
hưởng rất tốt cho người bệnh. [Đúng]
ff) Người hộ niệm cần nên tham gia đồng bóng, vì pháp
đồng bóng biết rõ người chết đi về đâu. [Sai]
gg) Có thể dùng pháp đồng bóng để hỗ trợ vào pháp hộ
niệm. [Sai]
hh) Pháp hộ niệm vãng sanh hoàn toàn không liên hệ gì
đến các pháp đồng bóng. [Đúng]
ii) Cần lập đàn cúng thí thực cho vong hồn để hỗ trợ pháp 
hộ niệm vãng sanh. [Sai]
jj) Người hộ niệm có thể cầu xin chư Thần Linh nhập
thân để hộ niệm [Sai]
kk) Người Phật tử chân chánh không nên ứng dụng các
pháp của ngoại đạo. [Đúng]
ll) Người hộ niệm mà tự xưng mình là Phật, Bồ-Tát tái
thế cứu độ chúng sanh thì đúng hay sai? [Sai]
mm) Thời này có Phật Bồ-Tát xuống thế cứu độ chúng sanh,
nhưng các Ngài tuyệt đối không bao giờ thố lộ danh
tánh, nếu bị lộ thì thị tịch ngay. [Đúng]
nn) Người tự xưng đắc đạo, phô diễn thần thông là đúng
hay sai? [Sai]
oo) Người chân chánh tu hành không bao giờ tự khoe
chứng đắc, hoặc phô diễn thần thông để chiêu nạp tín
đồ. [Đúng]
pp) Người nào tự xưng là Minh-Sư, tự cho mình đã đắc
đạo, thì người đó đang hành tà đạo. [Đúng]
qq) Nên tụng nhiều kinh chú để hỗ trợ thì pháp hộ niệm
mới mạnh. [Sai]
rr) Hộ niệm chỉ nên niệm Phật hiệu “A-Di-Đà Phật” để
giữ chánh niệm cho người bệnh là tốt nhất. [Đúng]
ss) Pháp niệm Phật vãng sanh càng chuyên càng mạnh,
càng xen tạp càng yếu. [Đúng]
tt) Xen tạp ngay lúc lâm chung là một sự tối kỵ cho việc
vãng sanh. [Đúng]
uu) Phải niệm “Nam Mô A-Di-Đà Phật”, không được niệm
A-Di-Đà Phật. [Sai] 
vv) Niệm “A-Di-Đà Phật” hoặc “Nam Mô A-Di-Đà Phật”
đều được, tùy theo ý muốn của người bệnh. [Đúng]  
ww) Niệm 4 chữ “A-Di-Đà Phật” thì mạnh hơn, dễ hơn cho
người lâm chung vì lúc này họ rất yếu, nhiều người
không niệm nổi 6 chữ. [Đúng] 
xx) Niệm 4 chữ “A-Di-Đà Phật” nặng về Lý Tự Tánh,
không còn “Năng-Sở”, (nghĩa là không phân biệt
người niệm và Phật được niệm) nên dễ được cảm ứng
đạo giao. [Đúng] 
yy) Niệm 6 chữ “Nam Mô A-Di-Đà Phật” nặng về Sự
Cung Kính, còn có “Năng-Sở”. Nhưng vẫn niệm
được, tùy theo sở thích của người bệnh. [Đúng] 
zz) Có thể niệm: “Mô Phật”, “Nam Mô Phật”... cho gọn
khi hộ niệm. [Sai]  
aaa) Có thể dùng câu: “Nam Mô Tây-Phương Cực-Lạc thế
giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A-Di-Đà Phật” để hộ
niệm. [Sai] (Quá dài) 
bbb) Người hộ niệm thường dễ bị ma nhập. [Sai] 
ccc) Người tâm tính hiếu kỳ, thượng mạn, thích cảm ứng,
ưa thần thông, tự cho mình đã chứng đắc hoặc có
năng lực đặc biệt gì đó... thì rất dễ bị ma nhập. [Đúng] 
ddd) Người thành tâm niệm Phật hộ niệm giúp người vãng
sanh được Thiên Long Hộ Pháp bảo vệ không thể bị
ma nhập. [Đúng] 
eee) Pháp hộ niệm giúp nhiều người ra đi an lành, có hiện
tượng vãng sanh vô cùng quí hóa, làm cho nhiều người
giác ngộ đường tu hành, công đức vô lượng. [Đúng] 


Chương 4: 
 

 
GIA ĐÌNH NGƯỜI BỆNH 

Gia đình người bệnh giữ vai trò rất quan trọng trong 
việc hộ niệm cho người thân của họ. Nếu gia đình biết rõ quy
luật hộ niệm và thực hành đúng theo lời hướng dẫn của BHN
thì cuộc hộ niệm rất dễ thành công. Nhờ cơ hội này mà giúp
cho người thân được vãng sanh, một nhân duyên quí hóa mà
trong vô lượng kiếp qua chưa hề được gặp. 
Nếu quy luật hộ niệm không được gia đình chú tâm
thực hiện thì cuộc hộ niệm rất dễ bị thất bại!...
 
 

1. Những người nào sẽ được hộ niệm?
a) Thành viên sinh hoạt trong BHN hoặc đồng tu trong
NPĐ và người thân thuộc của đồng tu. [Đúng]
b) Chỉ có người tu theo Phật giáo, nhất là tu theo pháp
môn niệm Phật mới được hộ niệm. [Sai]
c) Chỉ dành riêng cho người có đạo đức, không gây nhiều
tội ác. [Sai]
d) Tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, văn hóa,
trình độ, sắc tộc... nếu có đủ duyên đều có thể được hộ
niệm. [Đúng] 
 

2. Điều kiện để người bệnh được hộ niệm: 
a) Người đại diện gia đình của người bệnh đã liên lạc
mời BHN, và gia đình người bệnh phải chấp thuận
những quy định của BHN dành cho gia đình người
bệnh thì mới được hộ niệm.  [Đúng] 
b) Chính người bệnh phải đến thỉnh mời BHN thì mới
được hộ niệm. [Sai] 
c) Chờ khi bị bệnh nặng mới được hộ niệm. [Sai]
d) Người bệnh đến lúc mê man bất tỉnh hay đang hấp hối
mới được hộ niệm. [Sai] 
e) Người bệnh vẫn còn tỉnh táo thì mới có thể hộ niệm
được. [Đúng]
f) Tất cả người bệnh nào đã liên lạc với BHN thì đều
được hộ niệm. [Sai]
g) Người chưa bị bệnh nặng, nhưng cần nên chuẩn bị
trước, vì hộ niệm là pháp hướng dẫn cho người bệnh
tự thực hiện để được vãng sanh. [Đúng]
h) Tình cảm tốt giữa gia đình người bệnh và BHN là điều
quan trọng để được hộ niệm. [Sai] 
 

3. Gia đình người bệnh cần chú ý: (Xem thêm phần
phụ lục) 

a) Gia đình tin tưởng Phật pháp, thực hiện những quy
định của BHN và thật lòng muốn BHN trợ duyên cho
người thân của mình vãng sanh TPCL. [Đúng] 
b) Gia đình cần tin tưởng rằng BHN có thể giúp cho bệnh
tình của người thân mình mau chóng bình phục. [Sai] 
c) Gia đình cần nói rõ ý định, hoặc muốn người thân sớm 
bình phục, hoặc muốn người thân sớm vãng sanh để
BHN làm đúng theo ý nguyện của gia đình. [Sai] 
d) Không nên chạy theo tập tục thế gian mà tạo thành
chướng nạn làm mất cơ hội vãng sanh của người thân.
[Đúng] 
e) Khuyên người bệnh phải kiêng cữ ăn uống để sớm
được vãng sanh. [Sai] 
f) Cần cho người bệnh ăn uống đầy đủ hầu có đủ sức
khỏe, tinh thần tỉnh táo mới niệm Phật được tốt.
[Đúng] 
g) Cần thường xuyên thay đổi thế nằm, có thể xoa bóp
giúp bệnh nhân thoải mái mà niệm Phật. [Đúng] 
h) Gia đình tích cực cộng tác chặt chẽ với BHN để hộ
niệm cho người thân là điều rất quan trọng. [Đúng] 
 

4. Khi trình bày bản quy định cho gia đình, BHN cần
gặp những ai? 

a) Người bệnh và một vài người đại diện gia đình là đủ.
[Sai] 
b) Cần có mặt càng đầy đủ thành viên trong gia đình
càng tốt, có thể có mặt cả người bệnh. [Đúng] 
c) Một vài người đại diện trong gia đình, người bệnh
không được quyền tham dự. [Sai] 
d) Chỉ cần gởi bản nội quy cho gia đình đọc qua là được.
[Sai] 
 

5. Khi nào mới chính thức được hộ niệm:
a) Sau khi gia đình thỉnh mời BHN. [Sai] 
b) Sau khi BHN tiếp xúc gia đình và người bệnh. [Sai]
c) Sau khi BHN trình bày, giải thích bản quy định cho gia
đình, và gia đình thống nhất chấp nhận thực hiện đầy
đủ bản quy định này. [Đúng]
d) Hễ người bệnh tha thiết muốn vãng sanh thì BHN sẽ
nhận hộ niệm. [Sai] 
 

6. Vấn đề gia đình người bệnh không tin tưởng Phật
pháp: 

a) BHN nên thường xuyên đến thăm hỏi và khai thị cho
họ tin tưởng. [Sai] 
b) BHN không được tự ý đến hộ niệm. [Đúng]
c) BHN nên mời chư Tăng Ni đến giảng giải cho gia đình
hiểu. [Sai] 
 

7. Vấn đề gia đình cản trở, nhưng người bệnh lại
muốn được hộ niệm: 

a) Người bệnh có thể làm tờ di chúc rõ ràng giao quyền
hộ niệm cho BHN. [Đúng] 
b) Người bệnh phải tự dàn xếp ổn thỏa việc gia đình, tự
hóa giải sự cản ngăn. [Đúng] 
c) Nếu cần, người bệnh có thể nhờ đến pháp luật bảo vệ
bản di chúc, buộc mọi người trong gia đình phải thi
hành di chúc. [Đúng] 
d) Tất cả chướng ngại cần nên giải quyết ổn thỏa thì
BHN mới có thể hộ niệm được. [Đúng] 
 

8. Muốn cuộc hộ niệm tránh nhiều trở ngại thì tờ di 
chúc rất cần thiết. Những gì cần ghi trong di chúc? 

a) Tờ di chúc nên có người làm chứng và con cháu đồng
ký thuận. [Đúng]
b) Nếu cần, tờ di chúc nên được chính quyền thị thực để
hợp với pháp lý. [Đúng]
c) Nói rõ ý nguyện vãng sanh Tịnh-Độ của mình, yêu cầu
con cháu hỗ trợ. [Đúng]
d) Khuyến tấn con cháu tin tưởng Phật pháp, cùng nhau
niệm Phật hộ niệm. [Đúng]
e) Nếu có người con nào không tin thì khuyên vì lòng
hiếu nghĩa đừng gây trở ngại việc hộ niệm. [Đúng]
f) Cần chọn trước một BHN để lo liệu và quyết định việc
hộ niệm. [Đúng]
g) Nên phân chia tài sản rõ ràng cho con cháu trước.
[Đúng]
h) Dặn dò vấn đề giảm chế chất morphine để tránh tình
trạng mê man bất tỉnh. [Đúng]
i) Bệnh tình nguy kịch, không thể cứu chữa nên sớm xuất
viện lo việc hộ niệm. [Đúng]
j) Dặn dò con cháu không được ủ rũ, buồn khổ, rơi lệ,
khóc lóc khi mình lâm chung. [Đúng]
k) Không đụng chạm vào thân xác sau khi tắt thở cho đến
12 tiếng đồng hồ. [Đúng]
l) Dẫu gặp trường hợp tai nạn bị chết bất thường, cũng
xin miễn giải phẫu xét nghiệm tử thi. [Đúng]
m) Không được giải phẫu lấy khí quan. [Đúng]
n) Dặn con cháu tắm rửa sớm, thay quần áo tươm tất cho 
đẹp. [Sai]
o) Nên dặn con cháu làm tiệc linh đình cho nhiều người
biết mình vãng sanh. [Sai]
p) Dặn dò con cháu kiêng cữ sát sanh giết hại tất cả mọi
sinh vật. [Đúng]
q) Kiêng cữ sát hại những con vật lớn, còn các loài muỗi
ruồi… thì không sao. [Sai]
r) Dặn dò con cháu không dùng ngũ tân. [Đúng]
s) Không ăn ngũ tân, nhưng có thể cất chứa trong nhà.
[Sai]
t) Nên dùng trai chay thanh tịnh để tạo phước lành.
[Đúng]
u) Hậu sự nên đơn giản, không ồn náo. [Đúng]
v) Phải làm theo tục lệ của thế gian như: giải trùng tang,
thuê người khóc mướn, trống kèn, giết hại sinh vật đãi
đằng… [Sai] 
w) Nên tổ chức người niệm Phật suốt ngày bên quan tài là
tốt nhất. [Đúng]
x) Nên dặn dò về việc hậu sự cho con cháu làm hợp theo
Phật pháp. [Đúng]
y) Tất cả mọi nghi lễ khác chỉ nên làm sau khi sự hộ niệm
đã hoàn tất. [Đúng] 
 

9. Để cho gia đình nắm vững quy định về hộ niệm,
BHN cần phải làm gì? 

a) Ngày đầu tiên, cần tụ họp mọi người trong gia đình để
BHN giải thích rõ ràng từng điểm của bản “Những 
quy định dành cho gia đình bệnh nhân”. [Đúng]
b) Gia đình phải tôn trọng và thực hiện đúng bản quy
định mới được hộ niệm. [Đúng]
c) Nếu có điều gì khó thực hiện được, hoặc bị trở ngại do
hoàn cảnh tạo ra… thì gia đình cần nói rõ trước để
BHN xét lại, uyển chuyển mà giải quyết. [Đúng]
d) Chỉ cần gởi bản “Những quy định dành cho gia đình
bệnh nhân” để thân nhân biết qua mà tự thực hành lấy
là được. [Sai] 
 

10. Nếu gia đình không chấp nhận hoặc cố tình làm sai
lệch quy định về hộ niệm thì:  

a) BHN nên từ chối việc hộ niệm nếu chưa nhận ca. Nếu
đang hộ niệm thì nên đình chỉ. [Đúng] 
b) Thay vì hộ niệm vãng sanh, BHN nên uyển chuyển
đến niệm Phật tụng kinh cầu an cho người bệnh thì tốt
hơn. [Sai] 
c) Thường xuyên tới lui thăm viếng, kiên trì nhẫn nại giải
thích cho họ hiểu sự vi diệu của pháp hộ niệm. [Sai] 
d) Tìm cách uyển chuyển mà hộ niệm để tránh sự trách
móc. [Sai] 
e) Nếu cố gắng hộ niệm thì cũng không thành công, và
BHN dễ gặp điều phiền não. [Đúng] 
f) Phan duyên hộ niệm có thể bị rắc rối về vấn đề luật
pháp và tạo cơ hội cho người đời đàm tiếu có thể dẫn
tới tội phỉ báng Phật pháp. [Đúng] 
g) Phan duyên hộ niệm thì không gieo được duyên lành, 
ngược lại có thể làm giảm uy tín Phật pháp, và pháp
hộ niệm dễ bị chướng ngại. [Đúng] 
 

11. Tại sao hộ niệm cần phải có quy định nghiêm
chỉnh?  

a) Hàng phàm phu nghiệp nặng chướng sâu, phải nhờ
quy luật cụ thể để ổn định hoàn cảnh, mới có thể hộ
niệm tốt được. [Đúng] 
b) Giữ quy tắc hộ niệm nghiêm chỉnh để giảm thiểu sơ
suất, tránh nghịch duyên, nhờ thế cuộc hộ niệm mới có
thể thành công. [Đúng] 
c) Rất nhiều ca hộ niệm vì không chú ý đến những quy
tắc căn bản đã đưa đến sự đổ vỡ giữa chừng, hộ niệm
bị thất bại và gây ra khá nhiều phiền toái. [Đúng] 
d) Tôn trọng quy luật là thể hiện sự quyết tâm giúp người
thân vãng sanh. Có chí thành chí kính mới được Phật
lực gia trì. [Đúng]  
 

12. Phòng hộ niệm nên treo hình Phật như thế nào?
a) Có thể treo hình tượng Phật A-Di-Đà và hình Phật
phóng quang tiếp dẫn. [Đúng]
b) Có thể dùng hình Phật A-Di-Đà mà thường ngày
người bệnh thờ thì rất tốt. [Đúng]
c) Có thể treo nhiều hình tượng Phật và Bồ-Tát khác nhau
càng tốt. [Sai]
d) Chỉ nên treo một loại hình Phật A-Di-Đà duy nhất,
không nên treo chỗ này hình Phật vàng, chỗ kia hình
Phật xanh... [Đúng] 
e) Bắt buộc phải treo trên đầu người bệnh. [Sai]
f) Có thể treo hình A-Di-Đà Phật trên đầu, nhưng chủ
yếu là treo cao ở phía trước theo tầm mắt cho người
bệnh dễ thấy. [Đúng]
g) Có thể treo thêm bên trái, bên phải và thêm một vài
hình ở nơi sáng sủa. [Đúng] 
 

13. Sự thiết trí trong phòng hộ niệm cần như thế nào
mới tốt? 

a) Treo những hình ảnh kỷ niệm gia đình như: hình đoàn
tụ gia đình, sinh nhật, cưới hỏi… [Sai] 
b) Cần những hình ảnh trang trí vui tươi như: tranh cảnh,
bông hoa, v.v... [Sai] 
c) Có thể treo nhiều hình Phật và Bồ-Tát khác nhau cho
thêm phần trang nghiêm. [Sai] 
d) Chỉ được treo một mẫu hình Phật A-Di-Đà thống nhất.
Có thể dán văn phát nguyện, văn hồi hướng, cáo thị
cần thiết về sự hộ niệm. [Đúng] 
e) Hãy giữ nguyên cách trang trí sẵn có mới tốt vì người
bệnh đã quen thuộc rồi. [Sai] 
f) Phòng cần gọn gàng, sạch sẽ. Nếu có điều kiện thì
phòng nên rộng rãi đủ để lạy Phật, sắp xếp ghế ngồi,
tiện việc chăm sóc. [Đúng] 
g) Cần thoáng mát để có đủ không khí trong lành cho cả
người bệnh và người hộ niệm. [Đúng] 
h) Cần rộng rãi vì thường xuyên phải tiếp đón khách khứa
viếng thăm. [Sai] 
i) Cần có TV trước mặt để bệnh nhân nghe pháp hoặc
giải trí. [Sai] 
j) Có thể thiết lập một bàn thờ Phật đơn giản, nhưng
không phải bắt buộc. [Đúng] 
 

14. Tại sao không nên treo hình Phật, Bồ-Tát khác
trong phòng hộ niệm? 

a) Vì BHN có tâm phân biệt chấp trước mà ngăn cấm,
chứ thực ra không có điều quy định này. [Sai] 
b) Vì có nhiều nhiều hình tượng khác nhau dễ làm cho
người bệnh phân tâm, mất chánh niệm, không nhiếp
tâm vào câu Phật hiệu A-Di-Đà được. [Đúng] 
c) Tránh cho người bệnh khỏi bị những cạm bẫy tế vi của
oán thân trái chủ giả dạng. [Đúng] 
 

15. Không treo hình Phật khác, chỉ dùng hình A-Di-Đà
Phật có bị tội phân biệt không? 

a) Không phải phân biệt mà làm đúng theo lời dạy của
Phật trong kinh. [Đúng] 
b) Đây là pháp “Nhất Tâm”, giúp người bệnh một lòng
niệm danh hiệu đức A-Di-Đà để vãng sanh Tịnh-Độ.
[Đúng] 
c) Hình Phật A-Di-Đà cũng phải giống một mẫu, không
nên khác nhau để tránh sự phân tâm mới đúng pháp hộ
niệm. [Đúng] 

16. Trong thời gian hộ niệm, những điều cấm kỵ mà
gia đình cần chú ý: 

a) Không được để bà con, bạn hữu trực tiếp gặp người
bệnh để chia buồn, nói lời bi quan, cầu chúc lành
bệnh. [Đúng] 
b) Không cho thú vật như chó, mèo… lảng vảng bên
cạnh. [Đúng] 
c) Không được tự động áp dụng những cách hộ niệm
khác hoặc thay đổi quy luật hộ niệm. [Đúng] 
d) Không được sát sanh, ngay cả như: ruồi, muỗi, kiến,
gián… [Đúng] 
e) Tuyệt đối không sát hại sanh vật cúng tế quỷ thần.
[Đúng] 
f) Không được dùng cũng như cất giữ chất ngũ tân trong
nhà. [Đúng] 
g) Tuyệt đối không cho chích chất morphine giảm đau.
[Sai] 
h) Giảm thiểu dùng chất morphine để tránh người bệnh
bị hôn mê không niệm Phật được mà mất vãng sanh.
[Đúng] 
i) Tuyệt đối không cho người bệnh uống thuốc khi bắt
đầu hộ niệm. [Sai] 
j) Khuyên người bệnh mạnh mẽ phát tâm ngưng ăn uống
để được vãng sanh sớm. [Sai] 
k) Tuyệt đối không than khóc, ồn náo khi người bệnh ra
đi. [Đúng] 
l) Tuyệt đối không đụng chạm vào thân xác ít nhất trong
vòng 8 giờ. [Đúng] 
m) Tuyệt đối không được tụng kinh, tụng chú. [Sai] 
n) Thành tâm niệm Phật cầu A-Di-Đà Phật tiếp độ là tốt
nhất. [Đúng] 
o) Bắt buộc mọi người phải lạy Phật hàng ngày. [Sai]
p) Khuyến khích gia đình phát tâm niệm Phật lạy Phật
hàng ngày cầu Phật gia trì tiếp độ người bệnh vãng
sanh. [Đúng]
q) Phát tâm niệm Phật lạy Phật hàng ngày cầu xin người
bệnh bình phục. [Sai] 
 

17. Tại sao cần hạn chế người thân, bạn bè… trực tiếp
thăm hỏi người bệnh? 

a) Vì người không hiểu về hộ niệm thường bàn chuyện
theo thế gian, làm lạc tâm nguyện vãng sanh của
người bệnh. [Đúng] 
b) Vì chưa biết đạo lý vãng sanh nên dễ vô ý xúi giục làm
sai pháp hộ niệm. [Đúng] 
c) Vì nói lời bi quan khiến người bệnh xuống tinh thần
mà mất vãng sanh. [Đúng] 
 

18. Những điều gì thân nhân nên làm để việc hộ niệm
được thuận lợi? 

a) Thành tâm niệm Phật hộ niệm, thay cho người bệnh
lạy Phật sám hối. [Đúng] 
b) Nên ăn chay, tuyệt đối không được sát sanh. Tích cực
phóng sanh, làm chuyện công đức hồi hướng cho
người bệnh. [Đúng] 
c) Chí thành niệm Phật, lạy Phật cầu gia trì cho người
bệnh sớm bình phục. [Sai] 
d) Thường đem lễ vật dâng cúng ở nơi đền miếu cầu xin
Quỷ Thần gia hộ. [Sai] 
e) Cầu Thầy pháp đến lập đàn hầu đồng, cúng sao, giải
hạn, v.v... [Sai] 
f) Không được cất giữ hay ăn ngũ tân. Nấu nướng phải
gọn nhẹ, tránh mùi thức ăn bay đến chỗ hộ niệm.
[Đúng] 
g) Nếu biết không còn cách nào cứu chữa được nữa, hãy
mau mau xin xuất viện đưa bệnh nhân về nhà sớm lo
hộ niệm. [Đúng] 
h) Sớm mời một BHN đến để lo hộ niệm, gia đình cần làm
đúng theo sự hướng dẫn của BHN. [Đúng] 
i) Mời BHN càng sớm càng tốt. Đừng bao giờ chờ đến
lúc bệnh quá nặng, mê man bất tỉnh hay sắp lâm chung
mới thỉnh mời BHN. Quá trễ rồi!... [Đúng] 
j) Gia đình nên nhớ, đợi đến lúc bị mê man bất tỉnh,
đang hấp hối, hay sắp lâm chung, nhiều BHN không
đủ khả năng đảm nhận. [Đúng] 
k) Phải có người đại diện thường xuyên liên lạc với BHN,
tất cả mọi biến chuyển của người bệnh đều phải thông
báo thẳng tới trưởng BHN liền. [Đúng] 
l) Nên tham khảo ý kiến với trưởng BHN, không nên hỏi
người ngoài về hộ niệm vì rất dễ bị phân tâm, lạc
đường. [Đúng] 
m) Tích cực cùng tham gia hộ niệm, nhưng phải nhất mực
tuân theo sự hướng dẫn của BHN. [Đúng] 
n) Cẩn thận chăm sóc người bệnh, nhưng không được tự 
ý thêm bớt hoặc cố tình thay đổi phương pháp hộ niệm.
[Đúng] 
o) Có thể giao hết tất cả mọi việc cho BHN làm. [Sai] 
 

19. Ai có quyền quyết định hộ niệm trong bệnh viện
hoặc ở nhà? 

a) BHN toàn quyền quyết định, gia đình không được ý
kiến. [Sai] 
b) Gia đình quyết định, BHN không được quyền ý kiến.
[Sai] 
c) BHN cố vấn, gia đình cần nên nghe lời BHN tìm cách
xin xuất viện sớm khi thấy tình trạng không thể cứu
chữa. [Đúng] 
d) Hộ niệm trong bệnh viện hoặc ở nhà đều tốt. Không
cần bàn tính. [Sai] 
 

20. Vấn đề chăm sóc người bệnh theo pháp hộ niệm,
gia đình cần phải làm gì? 

a) Nhờ BHN đảm trách là hay nhất vì họ có nhiều kinh
nghiệm hơn. [Sai] 
b) Luôn luôn phải có ít nhất một người thân ở sát bên
người bệnh để niệm Phật, chăm sóc. [Đúng] 
c) Có thể dùng thuốc để hỗ trợ sức khỏe, nhưng phải
khuyên người bệnh quyết chí cầu vãng sanh. [Đúng] 
d) Cần chăm lo việc ăn uống đầy đủ để người bệnh có
sức khỏe và tinh thần tỉnh táo niệm Phật mới tốt.
[Đúng] 
e) Tích cực khuyến tấn người bệnh niệm Phật cầu vãng 
sanh. Không được nói lời tiêu cực, hay thăm hỏi vẩn
vơ, cử chỉ bi quan. [Đúng] 
f) Cần có y tá ngày đêm túc trực lo việc thuốc thang.
[Sai] 
g) Trong lúc hộ niệm, mọi biến chứng của bệnh nhân cần
phải thông báo liền cho bác sĩ. [Sai] 
h) Cần thông báo mọi tình huống về thể chất và tinh thần
của người bệnh đến BHN để họ theo dõi hầu khai thị
hóa giải kịp thời. [Đúng] 
 

21. Khi người thân ra đi, gia đình cần chú ý:
a) Nhanh chóng kêu xe cứu thương tới để làm hô hấp.
[Sai]
b) Mọi người cần bình tĩnh quây quần thành khẩn niệm
Phật cầu Phật tiếp dẫn, cấp kỳ gọi ban hộ niệm.
[Đúng]
c) Đừng vì quá thương tiếc người chết mà khóc than, sầu
bi... làm cho người ra đi khởi tâm quyến luyến mà bị
đọa lạc. [Đúng]
d) Nên tắm rửa, thay y phục, trang điểm cho đẹp, giúp
linh hồn người chết bớt tủi thân. [Sai]
e) Không được đụng chạm đến xác thân sớm vì sẽ tạo sự
đau đớn, khiến cho người chết sanh tâm sân giận mà
bị đọa vào ba đường ác. [Đúng]
f) Đem rượu thịt dâng cúng lên bàn thờ Phật, cầu Phật
Trời cứu độ. [Sai]
g) Không được đem rượu thịt cúng trên bàn thờ Phật, 
nhưng có thể cúng trên bàn thờ vong vì người chết lúc
sanh thời ăn thịt uống rượu. [Sai] 
h) Tuyệt đối kiêng cữ sát sanh hại vật để thết đãi tiệc tùng
mà tạo thêm tội chướng cho vong nhân. [Đúng] 
i) Đặt con dao và nải chuối trên bụng để yếm quỷ trừ tà.
[Sai] 
j) Nhét gạo nếp vàng bạc vào miệng, gởi tiền vào tay, để
người chết xuống suối vàng tiêu dùng. [Sai] 
k) Có nhiều tập tục của thế gian rất sai lầm, người học
Phật chân chánh không nên làm theo. [Đúng] 
l) Chú trọng ngày giờ tốt để chôn cất. Nhiều trường hợp
vừa mới chết xong phải chôn táng ngay thì kẻ chết
người sống mới được sự may mắn. [Sai] 
m) Nếu người chết nhằm vào ngày giờ “Trùng”, thì vong
hồn người chết sẽ về bắt người sống chết theo. [Sai]  
n) Phải cần mời thầy bùa về yếm trừ để giải nạn trùng
tang mới an tâm. [Sai] 
o) Người tu hành theo chánh đạo của Phật không được
lầm lạc tin theo tà thuyết của hàng ngoại đạo mới tốt.
[Đúng] 
p) Ông bà, cha mẹ chết mà con cháu không khóc thì có
tội bất hiếu. [Sai]  
q) Người chết mà thân nhân càng khóc than chừng nào
thì người chết càng bị đọa lạc chừng đó. Vô tình tạo
nên tội bất hiếu, bất nghĩa. [Đúng] 
 

22. Vấn đề kiêng cữ sát sanh hại vật trong 49 ngày sau 
khi người bệnh ra đi:

a) 49 ngày là thời gian phán xét tội phước, người thân
cần tích cực tạo phước sám hối gỡ tội cho vong nhân.
Đang sám hối nghiệp chướng mà sát sanh hại vật thì
ách nạn càng thêm nặng. [Đúng]
b) Sát hại chúng sanh dù vật nhỏ như ruồi, muỗi, kiến,
gián… đều tạo ra nghiệp sát, kết thêm mối hận thù với
chúng sanh. [Đúng]
c) Còn sát sanh hại vật thì rất khó điều giải nạn oán thân
trái chủ cho người bệnh. [Đúng] 
 

23. Vấn đề kiêng cữ ăn ngũ tân như: tỏi, hành, hẹ, nén,
kiệu, hành tây:  

a) Chất ngũ tân có mùi tanh hôi làm cho chư Thiên Long,
Hộ Pháp, Thiện Thần đều lánh xa, không bảo vệ người
bệnh được. [Đúng] 
b) Mùi tanh hôi của ngũ tân rất hợp với các vị Ác Thần,
những loài quỷ đói nên họ tề tựu về, nhân đó mà gây
nhiều trở ngại cho người bệnh. [Đúng] 
c) Không ăn ngũ tân để tỏ ra tôn kính chư Thiên-Long
Hộ-Pháp, các Ngài thương tình bảo vệ giúp người
bệnh được nhiều lợi lạc. [Đúng] 
 

24. So sánh sự khác nhau khi HN ở bệnh viện (BV) và
ở nhà:  

a) Có nhiều BV không đủ điều kiện để HN. [Đúng] 
b) Có nhiều BV không cho phép HN. [Đúng] 
c) HN trong BV người bệnh được chăm sóc kỹ nên dễ 
vãng sanh hơn. [Sai] 
d) Sự điều giải oán thân trái chủ trong BV sẽ khó khăn
hơn ở nhà. [Đúng] 
e) Khai thị, gỡ rối cho người bệnh trong BV rất khó khăn.
[Đúng] 
f) HN trong BV thời gian bị hạn chế, rất khó được viên
mãn. [Đúng] 
g) HN tại nhà thời gian không bị hạn chế, mọi người an
tâm niệm Phật nên dễ thành tựu hơn. [Đúng] 
h) HN tại nhà có thể chủ động ứng dụng tất cả quy tắc
HN, kịp thời hóa giải được nhiều chướng nạn, nên
người ra đi có xác suất vãng sanh cao hơn. [Đúng] 
i) Trong BV chỗ nằm thoải mái, tiện nghi hơn nên dễ
vãng sanh hơn. [Sai] 
j) Chết trong BV thân xác khó tránh khỏi sự đụng chạm
quá sớm. [Đúng] 
k) Trong BV người chết thường bị chúng sanh vô hình
quấy phá nhiều hơn. [Đúng] 
l) Chết trong BV thì linh hồn không về nhà được nên gia
đình sẽ ít lo sợ. [Sai] 
m) HN trong BV nếu gặp trường hợp trở ngại thì rất khó
hóa giải. [Đúng] 
n) Nhiều trường hợp đặc biệt cần khai thị lớn tiếng, niệm
Phật mạnh thì không thể thực hiện ở BV được. [Đúng]  
 

25. Nếu trường hợp không thể xuất viện được, gia đình
cần nhớ:  

a) Yêu cầu BV cho phép gia đình và BHN túc trực bên
cạnh để HN. [Đúng] 
b) Cần nhắc nhở bác sĩ chích morphine giúp người bệnh
thoải mái niệm Phật. [Sai] 
c) Liên hệ với bác sĩ xin giảm thiểu lượng morphine hoặc
có thể dùng liều ít nhất vừa đủ giảm đau vừa để người
bệnh luôn được tỉnh táo niệm Phật. [Đúng] 
d) Yêu cầu nhân viên BV tránh đụng chạm đến thân xác
người chết ít nhất 12 tiếng đồng hồ. [Đúng] 
e) Cần chích thuốc chống rã thân để làm lễ được lâu hơn. 
[Sai] 
f) Khi thấy người bệnh sắp ra đi, nếu được thì yêu cầu y
tá rút kim, lấy các ống ra. [Đúng] 
g) Nếu đã tắt hơi mà chưa kịp rút kim, xin hãy để nguyên,
chỉ nên khóa tất cả các ống hóa chất, ống dưỡng khí là
được… [Đúng] 
h) Khi thấy người bệnh sắp ra đi, cần yêu cầu được
chuyển đến một phòng riêng và cần thời gian 12 giờ để
hộ niệm. [Đúng] 


Chương 5:
 
THÀNH VIÊN BAN HỘ NIỆM 


Hộ niệm là một đại sự có ảnh hưởng đến huệ mạng của 
một người. Cực Lạc hay đọa lạc của họ tùy thuộc rất nhiều
vào hành động và ý niệm chánh pháp hay không của người
hộ niệm. Để cho công đức được tròn đầy, tâm bồ-đề được
viên mãn, mong tất cả chư vị phát tâm hộ niệm cần phải
nghiêm chỉnh thực hiện đúng theo quy tắc của pháp hộ niệm,
chớ nên tự ý thêm bớt, hầu gìn giữ chánh pháp lưu trụ dài lâu
và cứu được nhiều người vãng sanh thành đạo. Công đức vô
lượng. 


Xin miễn tham gia vào BHN vì sự hiếu kỳ, thiếu tin
tưởng.


1. Thành viên BHN cần chú ý: 
a) Mọi người đều được tự do tham gia BHN, nhân lực
càng đông càng tốt, không cần quy luật gì cả. [Sai]
b) Một người phải trải qua nhiều thử thách cam go mới
được làm thành viên của BHN. [Sai]
c) Liên-Hữu, Phật-Tử, Đồng-Tu nếu gìn giữ vững vàng
Tín-Nguyện-Hạnh của tông chỉ pháp niệm Phật thì 
được tham gia BHN. [Đúng]
d) Người hộ niệm nghiêm chỉnh nghiên cứu quy luật hộ
niệm và tích cực tham gia hộ niệm khi cần thiết. [Đúng]
e) Cần nghiên cứu nhiều pháp hộ niệm khác là điều cần
thiết để bổ khuyết cho pháp hộ niệm vãng sanh. [Sai]
f) Mỗi pháp tu, mỗi tôn giáo đều có cách hộ niệm riêng,
dẫn dắt về cảnh giới riêng. Người hộ niệm vãng sanh
Tịnh-Độ chỉ nên nghiên cứu pháp hộ niệm của Tịnh Độ
Tông mới chính xác. [Đúng]
g) Nghiên cứu nhiều pháp hộ niệm khác nhau dẫn đến sự
khai thị mông lung vô định, hướng dẫn người bệnh lạc
mất đường vãng sanh TPCL. [Đúng]
h) Cảnh giới huyễn hóa vô cùng, người hộ niệm vãng
sanh mà nghiên cứu không chánh không thẳng rất dễ
bị phân tâm, hoài nghi, rối loạn. [Đúng]
i) Tạp loạn là sự đại kỵ của pháp niệm Phật, đem sự tạp
loạn mà hộ niệm thì không thể giúp người bệnh vãng
sanh TPCL được. [Đúng]
j) Phải tinh tấn niệm Phật tu hành, chứ không phải chỉ lo
hộ niệm mà lơ là công phu niệm Phật. [Đúng]
k) Mỗi thành viên phải đóng lệ phí hộ niệm đầy đủ cho
BHN. [Sai]
l) Không được nhận tiền thù lao hay quà cáp trả ơn cho
việc Hộ-Niệm. [Đúng]
m) Mục đích hộ niệm là giúp người vãng sanh, hoàn toàn
không liên quan tới chuyện tiền bạc. [Đúng] 
n) Khi tham gia hộ niệm không được tự ý thêm bớt, phan
duyên. [Đúng] 
 

2. Những điều người trưởng và phó BHN (T/P BHN)
cần biết: 

a) T/P BHN được bình bầu bởi thành viên của ban BHN.
[Đúng] 
b) Người T/P BHN phải hiểu biết vững về pháp hộ niệm
của Tịnh Tông. [Đúng] 
c) Khai thị thường dành cho T/P BHN hoặc chư vị Tăng
Ni biết pháp hộ niệm. [Đúng]
d) Tuyệt đối chỉ có T/P BHN và chư Tăng-Ni mới được
quyền khai thị trong một ca hộ niệm. [Sai] 
e) Mọi người đều được quyền khai thị không cần hỏi qua
T/P BHN. [Sai] 
f) Nếu cần, T/P BHN có thể chọn người thay thế mình
khai thị trong các ca hộ niệm. [Đúng] 
g) T/P BHN liên lạc với gia đình, phân chia nhân lực cho
các ca hộ niệm. [Đúng] 
h) T/P BHN phải tôn trọng luật pháp quốc gia, phải
thuận theo những quy định của chính quyền địa
phương. [Đúng] 
i) T/P BHN cần theo dõi mọi chuyển biến trong các ca
hộ niệm. [Đúng] 
j) T/P BHN cần linh động giải quyết các vấn đề trong lúc
hộ niệm. [Đúng] 
k) T/P BHN cần có mặt trong lần đầu tiên nhận một ca 
hộ niệm. [Đúng]
l) T/P BHN không được vận động bất cứ một hình thức
nào về tiền bạc. [Đúng]
m) T/P BHN có thể làm lễ tiếp độ vãng sanh cho người
chết. [Sai]
n) T/P BHN phải có năng lực tiếp độ thần thức người chết
vãng sanh. [Sai]
o) T/P BHN có thể làm lễ truyền thọ tam quy y ngũ giới
cho người bệnh. [Sai]
p) T/P BHN có thể thay mặt BHN vận động tịnh tài để
làm Phật sự. [Sai]
q) T/P BHN có thể lập đàn siêu độ cho người chết. [Sai]
r) T/P BHN phải đảm trách luôn việc hậu sự mai táng
cho người được hộ niệm. [Sai]
s) T/P BHN phải cúng tuần thất cho người được hộ niệm.
[Sai]
t) Thành viên ban hộ niệm có thể tham dự tất cả các lễ
như: cầu siêu, cầu an, tuần thất, hộ quốc tức tai, tam
thời hệ niệm, hậu sự, mai táng, hỏa thiêu, v.v... [Đúng]
u) Phải có một năng lực đặc biệt mới được làm T/P BHN.
[Sai]
v) Người tu luyện một năng lực đặc dị nào đó dễ lạc vào
tà đạo, không thể làm được một T/P BHN chân chánh.
[Đúng]
w) Người tự xưng có năng lực đặc biệt thường khó tránh
khỏi nạn ma chướng. [Đúng]
x) Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: “Nếu người nào tự cho 
mình đã chứng đắc thì chắc chắn vướng nạn ma ngũ
ấm”, xin hết sức cẩn thận. [Đúng] 
y) T/P BHN phải có năng lực đẩy khí nóng trên xác
người chết lên cao. [Sai] 
z) T/P BHN phải có năng lực vận công điểm huyệt trên
xác người chết giúp thần thức vãng sanh. [Sai] 
aa) T/P BHN được quyền dùng cây đập vào xác người
chết để trị oán thân trái chủ. [Sai] 
bb) Người hộ niệm lâu năm nếu có được sự cảm ứng với
người âm, thấy rõ hình tướng oan gia trái chủ, là điều
tốt. [Sai] 
cc) Những cảm ứng bất bình thường đều từ vọng tưởng mà
ra. Người hộ niệm chân chánh phải quyết lòng đoạn
trừ những tà niệm này. [Đúng]  
dd) T/P BHN phải có năng lực trấn áp oan gia trái chủ.
[Sai] 
ee) Đàn áp oan gia trái chủ là hành động sai lầm, tư
tưởng tà vạy, không phải chánh pháp. [Đúng] 
ff) Điều giải oán thân trái chủ, phải lấy lòng chân thành
ra khuyên giải họ xóa bỏ hận thù, quay đầu niệm Phật
cầu vãng sanh để thoát nạn. [Đúng] 
gg) T/P BHN phải có tâm bình đẳng, từ bi, biết thương xót
những chúng sanh đang bị khổ nạn. Hãy khuyên giải
họ hồi đầu tỉnh ngộ, buông xả cõi khổ này trở về TPCL
thành đạo. [Đúng] 
hh) T/P BHN có quyền cưỡng bức gia đình người bệnh
phải làm theo chỉ thị của mình. [Sai] 
ii) T/P BHN giảng giải quy tắc hộ niệm, nếu gia đình cố
tình không làm theo thì T/P BHN có thể quyết định
đình chỉ việc hộ niệm. [Đúng] 
 

3. Những gì thành viên BHN cần nên làm?
a) Không nên tham gia BHN với tâm hiếu kỳ. [Đúng]
b) Tự mình phải tinh tấn niệm Phật tu hành. [Đúng]
c) Khi hộ niệm phải giữ thân khẩu ý thanh tịnh, nhiếp
tâm cầu A-Di-đà Phật tiếp dẫn người bệnh vãng sanh. 
[Đúng]
d) Không được tự ý làm sai quy luật trợ niệm. [Đúng]
e) Được quyền tự ý khai thị hướng dẫn bệnh nhân bất cứ
lúc nào. [Sai].
f) Không được đi lại, gây ồn náo, trò chuyện khi giải lao.
[Đúng]
g) Nên ngồi hai bên và cách thân xác người ra đi ít nhất
2m (nếu được). [Đúng]
h) Có thể niệm Phật theo âm điệu riêng của mình. [Sai]
i) Để giữ tỉnh táo có thể hút thuốc lá, uống rượu khi đang
hộ niệm. [Sai]
j) Có thể ăn loại ngũ tân, nhưng tuyệt đối phải ăn chay
trường. [Sai]
k) Không bắt buộc phải ăn chay trường, nhưng phải cữ
tuyệt ăn ngũ tân. [Đúng]
l) Ngày thường có thể ăn “Tam Tịnh Nhục”, nhưng ngày
hộ niệm nên ăn chay mới tốt. [Đúng]
m) Khuyến khích tất cả thành viên nên ăn chay trường, 
nuôi dưỡng tâm từ bi. [Đúng]
n) Xong ca hộ niệm, nếu rảnh rỗi có thể lưu lại nhà người
bệnh để tâm sự riêng tư với họ. [Sai]
o) Xong ca hộ niệm nên ra về liền, tránh làm bận tâm gia
đình người bệnh. [Đúng]
p) Khi Hộ-Niệm, mỗi thành viên cố gắng tự lo về ăn
uống, tránh tối đa làm phiền đến gia đình bệnh nhân
(trừ khi ở quá xa). [Đúng]
q) Đang chờ tới phiên hộ niệm của mình, nên tham gia
phụ giúp việc lặt vặt trong nhà người bệnh. [Sai].
r) Người hộ niệm cần nhiếp tâm niệm Phật là chính,
không nên chú tâm phụ giúp vào việc nhà của người
bệnh. [Đúng]
s) Tham gia những phiên họp BHN, đóng góp ý kiến phát
triển BHN tốt hơn. [Đúng]
t) Khi hộ niệm có quyền đứng lên cướp lời khai thị liền
nếu thấy T/P BHN nói lệch vấn đề. [Sai]
u) Mỗi thành viên nên tập luyện khả năng khai thị, học
hỏi, rút tỉa ưu khuyết điểm. [Đúng]
v) Cố gắng hỗ trợ gia đình người bệnh về việc thuốc
thang, cầu cho người bệnh chóng bình phục. [Sai]
w) Lo lắng về bệnh tình, thăm hỏi nóng lạnh, an ủi bệnh
nhân. [Sai] 
 

4. Hướng dẫn khai thị trong ca hộ niệm thường dành
cho ai? 

a) Chư vị Tăng-Ni biết hộ niệm, trưởng và phó BHN, 
hoặc những thành viên đã được chỉ định trước. [Đúng]
b) Mỗi ca hộ niệm chỉ nên có một người khai thị, các
thành viên khác nên nhiếp tâm niệm Phật cầu Phật gia
bị cho người bệnh. [Đúng]
c) Phải là người quen biết với bệnh nhân và hiểu rõ hoàn
cảnh gia đình bệnh nhân mới được khai thị. [Sai] 
 

5. Về sinh hoạt nội bộ, thông thường BHN cần nên
làm gì? 

a) Tổ chức hội họp định kỳ để rút tỉa ưu khuyết điểm, học
hỏi thêm kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả hộ niệm.
[Đúng] 
b) Tất cả thành viên hoan hỉ học tập, sống theo sáu điều
hòa kính của Phật dạy. [Đúng] 
c) Thành viên trong BHN nên tạo điều kiện gặp gỡ, giúp
đỡ nhau cùng thực hiện tâm nguyện giúp người vãng
sanh. [Đúng] 
 

6. Những ai không nên tham gia cuộc hộ niệm?
a) Những người đang bị bệnh cảm cúm, ho, bệnh truyền
nhiễm… [Đúng]
b) Những người thường có chuyện xích mích với người
bệnh. [Đúng]
c) Những người còn đang ăn ngũ tân: Tỏi, hành, hẹ, kiệu,
nén, ba-rô… [Đúng]
d) Những người không nghiêm chỉnh tuân theo quy luật
hộ niệm. [Đúng] 
 

Chương 6:
 
HƯỚNG DẪN - KHAI THỊ 

Con người khi lâm chung bị bệnh khổ hành hạ, bị nạn 
oán thân trái chủ hãm hại, quyến luyến người thân, tham tiếc
gia tài, con cháu khóc than, v.v... vạn sự vướng mắc lôi kéo
người ra đi vào cảnh khổ lụy. Nhiều người một đời tu hành
nhưng sau cùng cũng bị nghiệp chướng hiện hành chi phối,
làm cho tâm hồn tán loạn, khó ai có thể sáng suốt tự chủ lấy
đường giải thoát.
Người hộ niệm điều giải, hóa gỡ ách nạn, nhắc nhở
người bệnh buông xả vạn duyên, khai thị pháp niệm Phật cầu
vãng sanh Tịnh-Độ là điều vô cùng cần thiết, giúp cho người
ra đi có nhiều cơ duyên vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc.



1. Danh từ “Khai Thị” trong pháp hộ niệm được hiểu
như thế nào?

a) Khai mở “Tri Kiến Phật” cho người bệnh ngộ nhập
“Tri Kiến Phật”. [Sai]
b) Khai thị là hướng dẫn người bệnh thực hiện Tín-nguyện-Hạnh,
hóa gỡ những vướng mắc còn kẹt trong tâm của
người bệnh để họ an tâm niệm Phật cầu vãng sanh.[Đúng]
c) Giảng giải những điểm chính yếu trong ba bộ kinh của
pháp môn Tịnh-Độ cho người bệnh nắm vững. [Sai] 
d) Giảng giải những lý đạo cao siêu trong Phật pháp cho
người bệnh giác ngộ. [Sai] 
 

2. Tổng quát về sự khai thị trong pháp hộ niệm: 
a) Hướng dẫn, khuyến tấn người bệnh niệm Phật cầu
vãng sanh. [Đúng]
b) Điều giải oán thân trái chủ, hóa gỡ những vướng mắc
của người bệnh, giúp họ niệm được câu Phật hiệu để
vãng sanh. [Đúng]
c) Hướng dẫn gia đình biết cách hộ niệm và chăm sóc
người bệnh. [Đúng]
d) Khai thị có được tác dụng chỉ khi người bệnh còn sáng
suốt. [Đúng] 
e) Sự khai thị rất quan trọng, đóng góp rất lớn vào thành
quả vãng sanh của người bệnh. [Đúng]
f) Khai thị thiếu cẩn trọng, sai lệch có thể ảnh hưởng xấu
cho việc vãng sanh. [Đúng]
g) Ánh mắt, cử chỉ, giọng nói, nội dung, tâm lý… luôn
luôn phải được chuẩn bị trước khi khai thị mới tốt.
[Đúng]
h) Người bệnh đã rơi vào trạng thái hôn trầm hay nửa mê
nửa tỉnh rất khó tiếp nhận được sự khai thị. [Đúng]
i) Chờ đến khi người bệnh sắp chết thì mời BHN đến
khai thị là đúng lúc nhất. [Sai] 
 

3. Khi người bệnh sắp tới ngày giờ lâm chung, khai 
thị cần chú ý: 

a) Nhắc người bệnh biết rằng đã sắp đến thời điểm xả bỏ
báo thân để trở về TPCL, phải vui vẻ nhiếp tâm niệm
Phật không được phân tâm. [Đúng]
b) Khi người bệnh thấy ông bà, người thân quá cố hiện
ra, dặn dò họ đừng để tâm tới, hãy giữ chắc câu Phật
hiệu mà niệm là được. [Đúng]
c) Luôn luôn dặn người bệnh chỉ đi theo Phật Bồ-Tát,
không được đi theo ông bà quyến thuộc hay người nào
khác. [Sai]
d) Nhắc nhở người bệnh chỉ được đi theo A-Di-Đà Phật.
Đức Từ-Phụ hóa hiện giống như tấm hình đang treo
trước mặt, tuyệt đối không được theo một vị nào khác.
[Đúng] 
 

4. Tại sao chư Phật Bồ-Tát khác hiện ra người bệnh
không được theo? 

a) Vì ta không muốn về các cõi Phật khác ngoài TPCL.
[Sai] 
b) Vì chỉ có A-Di-Đà Phật là vĩ đại nhất, các vị Phật khác
không bằng. [Sai] 
c) Vì tránh nạn oán thân trái chủ trá hình lừa gạt người
bệnh. [Đúng] 
 

5. Oán thân trái chủ thường trá hình thân bằng quyến
thuộc về dụ dỗ, muốn tránh nạn này chúng ta cần
làm gì? 

a) Dán bùa bát quái trước cửa nhà hoặc dùng bùa trấn ma 
để trị. [Sai]
b) Nếu ông bà về thăm con cháu, thì ta niệm Phật cho họ
tránh xa đi. [Sai]
c) Không nên tổ chức giỗ kỵ, cúng lạy tổ tiên nữa. [Sai]
d) Những ngày giỗ kỵ, không nên cầu xin người thân đã
mất về giúp đỡ, mà hãy khấn nguyện họ phát tâm niệm
Phật cầu sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
 

6. Người khai thị hộ niệm cần đến những yếu tố nào?
a) Cần đến lòng chân thành, từ bi và Tín-Nguyện-Hạnh
của người hộ niệm. [Đúng]
b) Yếu tố tâm lý rất cần để ứng xử được thích đáng khi
khai thị. [Đúng]
c) Tu luyện một năng lực đặc biệt là điều cần thiết. [Sai]
d) Thường nhắc nhở đến lỗi lầm của người bệnh để họ
sám hối. [Sai]
e) Tập nói năng trôi chảy, lý luận cho sắc bén là rất cần
thiết. [Sai] 
 

7. Khai thị chính yếu là khuyên người bệnh buông xả.
Vậy buông xả gì đây? 

a) Khuyên bệnh nhân không cần ăn uống nữa để được
vãng sanh sớm. [Sai] 
b) Không được cầu hết bệnh, khuyên người bệnh không
được dùng thuốc nữa. [Sai]  
c) Khuyên người bệnh có sanh thì có tử, không sợ chết.
Nương theo cơ hội mãn báo thân này hãy quyết lòng
niệm Phật cầu vãng sanh TPCL. [Đúng] 
d) Với người nào quá lo lắng về bệnh, sợ bệnh, hàng
ngày thường đo áp huyết, xuống cân cũng sợ, lên cân
cũng lo!... Khuyên họ phải buông ra. [Đúng] 
e) Với người phát tâm một đời này trả cho hết nghiệp.
Khuyên họ phải bỏ lời nguyện này đi, tha thiết cầu
vãng sanh mới được vãng sanh. [Đúng] 
f) Với người nằm một chỗ chờ hoài không được vãng
sanh đâm ra chán nản!... Phải khuyên họ mau mau bỏ
sự chán nản này đi mới được vãng sanh. [Đúng] 
g) Người niệm Phật quá lâu rồi mà sao còn nhiều bệnh
khổ nên cảm thấy buồn. Phải khuyên họ mau mau bỏ
nỗi buồn này đi thì mới được vãng sanh. [Đúng]  
h) Khuyên họ phải nghĩ rằng nghiệp chướng mình nặng
quá, đúng ra phải đọa tam đồ, nay được chuyển thành
quả báo nhẹ, trả xong ta vãng sanh TPCL. [Đúng] 
i) Người nào cứ nghĩ về tội lỗi trong quá khứ, khuyên họ
hãy thành tâm sám hối rồi quên tội lỗi đi, bắt đầu từ
nay quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
j) Người bệnh thường nằm mơ thấy đủ điều sinh ra sợ
hãi. Hãy an ủi họ, bảo rằng đó chỉ là huyễn mộng,
không cần lo sợ. [Đúng] 
k) Người bệnh thương nhớ con cháu, nhắc nhở phải mau
mau buông ra. [Đúng] 
l) Nói chung, tìm hiểu người bệnh đang vướng mắc điều
gì, khéo léo khuyên họ buông điều đó xuống. [Đúng] 
 

8. Tư thái nào tốt nhất khi khai thị cho người bệnh? 
a) Cần tư thái trang nghiêm, trịnh trọng để người bệnh
chú ý lắng nghe, không được khinh mạn. [Sai] 
b) Người khai thị quá trang nghiêm làm người bệnh dễ bị
căng thẳng, sợ hãi, mệt mỏi... Nghĩa là tạo thêm mối
lo âu cho người bệnh. [Đúng] 
c) Tư thái người hộ niệm quá trịnh trọng sẽ khó hóa gỡ
những vướng mắc vì người bệnh không dám mạnh dạn
tâm sự những vướng mắc của họ. [Đúng] 
d) Khuyến tấn một cách vui vẻ, tự nhiên, thoải mái như
một cuộc nói chuyện bình thường mới tốt. [Đúng] 
e) Cầm tay hòa nhã nói chuyện, thân thiện, mỉm cười...
để an ủi người bệnh. [Đúng] 
 

9. Tâm tâm cảm ứng, lý đạo này được ứng dụng khi
hộ niệm như thế nào? 

a) Người hộ niệm vững niềm tin, thì dễ giúp người bệnh
phát lòng tin vững vàng. [Đúng] 
b) Người hộ niệm tha thiết muốn vãng sanh, thì dễ giúp
cho người bệnh tha thiết cầu sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
c) Người hộ niệm không sợ chết thì dễ khuyên người
bệnh coi việc xả bỏ báo thân nhẹ nhàng. [Đúng] 
d) Tín Nguyện Hạnh vững vàng của người hộ niệm sẽ
ảnh hưởng rất tốt đến người bệnh. [Đúng] 
e) Người hộ niệm có năng lực truyền tâm ấn cho người
bệnh. [Sai] 
 

10. Những gì thích ứng với sự khai thị. 
a) BHN lấy lòng chí thành chí kính nguyện cầu Phật 
phóng quang tiếp độ. [Đúng]
b) Gia đình thành tâm vì người bệnh lạy Phật cầu sám
hối, xin Phật thương xót tiếp độ vãng sanh. [Đúng]
c) Những người có năng lực đặc biệt mới thích hợp để
khai thị trong ca hộ niệm. [Sai]
d) Khai thị là dùng lòng chân thành khuyến nhắc sẽ có
kết quả tốt hơn sự phô diễn những lý đạo cao siêu.
[Đúng]
e) Khiêm, cung, từ, ái và tâm thành kính rất quan trọng
đối với người hộ niệm. [Đúng]
f) Người bệnh sợ chết, thì nên dùng tâm lý nói rằng niệm
Phật sẽ hết bệnh. [Sai]
g) Người bệnh sợ chết, thì khuyên rằng chết là thân xác
ta phải bỏ đi, chứ ta không chết. Hãy thành tâm niệm
Phật cầu Phật thương xót tiếp độ cho sanh về nước
Cực-Lạc để không còn sanh tử nữa. [Đúng]
h) Người không sợ chết, họ coi cái chết như một cơ hội
để giải thoát, nếu biết niệm Phật thì hộ niệm cho họ
rất dễ vãng sanh. [Đúng]
i) Dù có hộ niệm đúng pháp đi nữa, nhưng người bệnh
sợ chết thì cũng không thể được vãng sanh. [Đúng]
j) Việc khai thị, yếu tố tâm lý không quan trọng bằng
khả năng lý luận. [Sai]
k) Hiểu biết về tâm lý rất quan trọng cho việc khai thị.
[Đúng]
l) Điều giải oán thân trái chủ rất cần đến năng lực đặc
biệt của người hộ niệm. [Sai] 
m) Điều giải oán thân trái chủ rất cần đến lòng từ bi, kính
mến, thông cảm và tâm cứu độ của người hộ niệm.
[Đúng] 
n) Khai thị cho người bệnh cần vạch ra những sai lầm
trong quá khứ để họ biết mà sám hối. [Sai] 
o) Khuyên nhắc người bệnh ý thức rằng mình đã sơ ý tạo
quá nhiều nghiệp chướng, nay xin thành tâm sám hối,
cầu xin Phật thương xót nhiếp thọ vãng sanh. [Đúng] 
p) Người bệnh đã mê lầm tạo nghiệp, thì khai thị cần an
ủi, nâng đỡ tinh thần người bệnh lên. [Đúng] 
 

11. Gặp trường hợp một vị oán thân quyết lòng trả thù
người bệnh, người hộ niệm phải làm gì? 

a) Khuyên người bệnh thành tâm sám hối lỗi lầm, khuyên
gia đình lạy Phật cầu gia bị, người hộ niệm thành tâm
điều giải khuyên chư vị oán thân trái chủ buông bỏ
oán thù cùng nhau niệm Phật, cùng vãng sanh thoát
vòng khổ nạn. [Đúng] 
b) Mỗi lần hồi hướng công đức cho người bệnh cần hồi
hướng luôn oan gia trái chủ. [Đúng] 
c) Mọi người cùng thành tâm niệm Phật thì dễ được Phật
lực gia trì, chướng nạn dễ hóa giải. [Đúng] 
d) Khuyên người bệnh yên chí, vì người hộ niệm có năng
lực đánh đuổi oan gia trái chủ. [Sai] 
e) Khuyên gia đình tìm thầy bùa đến làm phép trừ ma
yếm quỷ. [Sai] 
f) Lấy con dao để trên bụng để trừ tà ma. [Sai] 
 

12. Khi đi hộ niệm, chúng ta thường thấy nạn oán thân
trái chủ, đây là một lời khai thị rất hay về: 

a) Sự trả thù rất kinh hoàng khó đoán trước vì sự sát
sanh hại vật. [Đúng] 
b) Kiêng cữ sát sanh hại vật, dù là các loài kiến, gián,
ruồi, muỗi... [Đúng] 
c) Người tu hành nên ăn chay trường, phóng sanh lợi vật
để hóa giải trước những mối oán hờn này mới tốt.
[Đúng] 
 

13. Đối với pháp giới chúng sanh, chúng ta cần chú ý: 
a) Người hộ niệm phải có tâm từ bi, điều giải trên tinh
thần bình đẳng, giúp cho cả người bệnh và oán thân
trái chủ đều có lợi. [Đúng]
b) Người hộ niệm không được đấu tranh với oan gia trái
chủ, không được gây oán thù với pháp giới chúng
sanh. [Đúng]
c) Điều giải nạn oán thân trái chủ nên thực hiện ngay ở
lần hộ niệm đầu tiên, dù không thấy có hiện tượng này
xảy ra. [Đúng]
d) Khi gặp trường hợp nhập thân đánh phá, người hộ
niệm chân thành khuyên họ buông bỏ oán thù, nương
theo cơ hội này cùng nhau niệm Phật cầu vãng sanh
về TPCL hưởng an vui cực lạc. [Đúng]
e) Người trưởng BHN cần trang bị một năng lực mạnh
mẽ để sẵn sàng đàn áp oán thân trái chủ nếu họ quá 
cứng đầu. [Sai]
f) Mỗi thành viên hộ niệm đều phải có ý chí vững vàng
và sẵn sàng hợp sức lại để chế ngự oán thân trái chủ.
[Sai]
g) Không được cưỡng ép, nói nặng lời hay thách thức
chư vị oán thân trái chủ. [Đúng]
h) Điều giải là chính, nhưng nếu không thành thì vì cứu
người bệnh BHN phải lớn tiếng cảnh cáo hoặc đành
phải xử trị oan gia trái chủ thôi. [Sai]
i) Tất cả đều có nhân quả. Người hộ niệm cần kiên nhẫn
hòa giải, chớ nên khởi ác niệm trong lúc hộ niệm.
[Đúng]
j) Phải kính trọng và thương xót các vị oán thân trái chủ
mới điều giải được. [Đúng]
k) Chắp tay cung kính, thành tâm điều giải, mở lòng từ bi
thương xót cảnh khổ đau của chư vị trong pháp giới.
Chân thành khuyên nhủ họ buông xả oán thù, nghe
theo lời Phật dạy cùng nhau niệm A-Di Đà Phật cầu
vãng sanh thoát khổ. [Đúng] 
 

14. Khai thị có được quyền gạn hỏi bệnh nhân nhiều
không? Tại sao? 

a) Cần hỏi càng nhiều càng tốt để nắm rõ ràng hơn về
tâm ý, suy nghĩ, bệnh tình của người bệnh. [Sai] 
b) Không nên gạn hỏi quá nhiều vì dễ làm cho người
bệnh mệt mỏi, chán nản, căng thẳng, bối rối... [Đúng] 
c) Bắt buộc không được hỏi gì cả, vì hỏi han người bệnh 
là vi phạm quy luật hộ niệm. [Sai]
d) Nên dò hỏi gia đình để biết những vướng mắc của
người bệnh. [Đúng]
e) Nhạy bén theo dõi sự chuyển biến tâm lý của người
bệnh mà tìm ra vướng mắc để tìm cách hóa giải.
[Đúng] 
 

15. Khi sơ ý lỡ hỏi một câu gì mà người bệnh có vẻ bối
rối, lúng túng thì người khai thị phải xử trí như thế
nào? 

a) Thong thả cho người bệnh thêm thời gian để suy nghĩ.
[Sai] 
b) Có thể nhắc lại vài ba lần, hoặc cho phép người bệnh
nhờ đến gia đình góp ý. [Sai] 
c) Không nên ép buộc người bệnh phải trả lời liền, chờ
vài ba ngày sau trả lời cũng được. [Sai] 
d) Người khai thị phải lên tiếng trả lời thay cho người
bệnh liền để người bệnh khỏi bị hoang mang, rối trí
mà mất chánh niệm. [Đúng] 
 

16. Người khai thị giải quyết thế nào đối với người
bệnh thường bị ác mộng, thấy nhiều cảnh giới lạ,
thường bị giật mình, nói nhảm? 

a) Nên cho người bệnh uống thuốc an thần. [Sai]
b) Dặn con cháu trong gia đình thường xuyên túc trực
bên cạnh, đánh thức người bệnh dậy nếu thấy người
bệnh bị giật mình, nói lảm nhảm, nhắc nhở niệm A-Di Đà-Phật
liền và cùng niệm Phật với họ. [Đúng]
c) BHN nên nắm tay vui vẻ, nói lời an ủi, ví dụ như:
“Không có sao đâu Bác, có chúng con đang ở kề bên
Bác đây. Bác yên tâm nhé. Bác thành tâm niệm A-DiĐà-Phật
thì Phật lực gia trì, sẽ có 25 vị Bồ-Tát gia trì, chư Thiên-Long
Hộ-Pháp bảo vệ. Bác nhất định được an toàn”. [Đúng]
d) Cùng nhau chí tâm niệm Phật cầu Phật gia trì. [Đúng] 
 

17. Gạn hỏi người bệnh nhiều quá là điều không tốt.
Nhưng khi được khai thị đầy đủ, người hộ niệm
thỉnh thoảng có thể dùng một vài câu (chứ không
phải tất cả) mẫu trắc nghiệm sau đây để thử lòng
người bệnh có vững tâm hay chưa.   

a) Bây giờ bác còn sợ chết không?
b) Bác có mong cầu sớm hết bệnh không?
c) Có cố gắng tìm thuốc khác để uống may ra sẽ hết bệnh
không?
d) Khi có cơn đau thì cần chích thuốc giảm đau liền nhé?
e) Bác có thử tìm bác sĩ nào khác để chữa trị cho có hiệu
quả hơn không?
f) Bác còn lo lắng, nhớ thương tới con cháu không?
g) Bác còn ghét ông Tám đó không?
h) Bác còn muốn xây xong cái chùa đó rồi mới đành lòng
ra đi không?
i) Bác có vui khi thấy ông bà về an ủi không?
j) Khi ông bà, thân quyến đã chết tới đón Bác có đi theo
không? 
k) Khi lâm chung thấy đức bổn sư Thích-Ca Phật tới đón
Bác có đi theo không? 
l) Khi lâm chung thấy Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát tới đón
Bác có đi theo không? 
m) Gặp Phật Bồ-Tát nào khác đến bác có đi theo không?
n) Gặp những cảnh đẹp với ánh sáng vi diệu hiện ra Bác
có đi theo không?
o) V.v...

(Những câu trên nếu người bệnh trả lời [Không] thì 
vững, trả lời [Có] thì yếu). 
 

18. Trong “Tam Chủng Hữu Lực”, thì “Bản Hữu Phật
Tánh Lực” là Tự Tánh Di-Đà hay là Chơn Tâm Tự
Tánh của ta, “Phật Nhiếp Hữu Lực” là sự tiếp độ
của Phật A-Di-Đà. Còn “Niệm Hữu Lực” là gì? 

a) Là mức tu chứng của người tu hành. [Sai]
b) Là lực niệm Phật đã chứng tới cảnh giới “Nhất tâm bất
loạn”. [Sai]
c) Chỉ cho Tín-Nguyện-Hạnh của người muốn vãng sanh
cần phải có đầy đủ. [Đúng] 
 

19. Niệm lực được vững mạnh nhờ vào đâu?
a) Công phu đoạn diệt nghiệp chướng mạnh. [Sai]
b) Mức thiền định cao. [Sai]
c) Niềm tin vững vàng vào pháp niệm Phật vãng sanh.
[Đúng] 
 

20. Những điều nào sau đây đúng với pháp hộ niệm? 
a) Hộ niệm là giúp người bệnh có “Niệm Lực” mạnh để
ứng hiện “Phật Tánh Lực”, nhờ thế mà được “Nhiếp
Thọ Lực” của Phật tiếp dẫn về Tây-Phương Cực-Lạc.
[Đúng]
b) Hộ niệm là giúp người bệnh có “Niệm Lực” mạnh,
sớm tiêu hết nghiệp chướng để lành bệnh. [sai]
c) Hộ niệm là giúp nguời bệnh có “Niệm Lực” mạnh để
niệm Phật được “Nhất tâm bất loạn”. [Sai]
d) Dù là thời mạt pháp, nhưng người nào được hộ niệm
thì chắc chắn sẽ vãng sanh. [Sai]
e) Phàm phu tu trong thời mạt pháp mà không được hộ
niệm thì không dễ gì được thoát nạn. [Đúng]
f) Có người chơn chánh tu hành cả đời nhưng chưa chắc
sẽ được vãng sanh, thì một người nhờ vào hộ niệm mà
được vãng sanh là điều không thể tin tưởng. [Sai] 
g) Nhờ hộ niệm giúp người bệnh vượt qua nghiệp
chướng, theo nguyện lực mà vãng sanh. [Đúng]
h) Hộ niệm là dị đoan mê tín, không có trong kinh Phật.
[Sai]
i) Hộ niệm vãng sanh được Phật dạy trong rất nhiều kinh
điển. [Đúng] 
j) Không cần khó nhọc tu hành, đợi tới lúc nguy kịch rồi
mời BHN là được. [Sai]
k) Hộ niệm là pháp tu, phải lo niệm Phật tu hành với đầy
đủ Tín-Nguyện-Hạnh là căn bản của pháp hộ niệm.
[Đúng] 
 

21. Lý do tu hành lâu năm mà không được vãng sanh:
a) Vì niệm Phật không cầu vãng sanh TPCL nên không
được vãng sanh. [Đúng]
b) Nhiều pháp môn tu nhắm về những cảnh giới khác, nên
không được vãng sanh về TPCL. [Đúng]
c) Vì niệm Phật nhưng chỉ cầu xin phước báu chứ không
cầu vãng sanh. [Đúng]
d) Rất nhiều người tu hành mà không tin có cõi TâyPhương
Cực-Lạc,nên không thể vãng sanh. [Đúng]
e) Vì niệm Phật mà không buông bỏ phân biệt chấp trước
nên mất vãng sanh. [Đúng]
f) Tình chấp thế gian không buông bỏ nên mất vãng
sanh. [Đúng]
g) Vì niệm Phật mà khi lâm chung không được hộ niệm,
tự mình bị rối trong nghiệp chướng nên mất vãng
sanh. [Đúng] 
 

22. Muốn được vãng sanh cần chú ý những điều sau
đây:  

a) Không sợ chết thì khi lâm chung khỏi bị khủng hoảng,
lo sợ. [Đúng] 
b) Người tu hành lâu năm thì chắc chắn dễ vãng sanh hơn
người mới tu. [Sai] 
c) Người nhiều năm chuyên lòng niệm Phật cầu sanh
Tịnh-Độ thì dễ vãng sanh hơn người mới niệm Phật.
[Đúng] 
d) Chuyên lòng niệm Phật cầu vãng sanh thì dễ vãng 
sanh hơn tu hành không có định hướng. [Đúng]
e) Người nhiều năm niệm Phật nhưng còn xen tạp nhiều
thứ vẫn dễ được vãng sanh hơn người mới tu. [Sai]
f) Người mới phát tâm niệm Phật, nhưng tin tưởng vững
vàng vẫn dễ vãng sanh hơn người tu lâu nhưng niềm
tin yếu đuối. [Đúng]
g) Ăn ở hiền lành chất phác niệm Phật dễ vãng sanh hơn
người hiếu kỳ đam mê những điều hão huyền. [Đúng]
h) Người tu hành lâu năm nhưng không cầu sanh TịnhĐộ
thì không được vãng sanh. [Đúng]
i) Người tu hành nhiều năm nhưng trước giờ phút lâm
chung còn sợ chết thì không thể được vãng sanh. [Đúng]
j) Người tu hành công phu khá cao nhưng khi bệnh nặng
mà ngày đêm cầu xin hết bệnh, thì không thể vãng
sanh. [Đúng]
k) Người niệm Phật lâu năm nhưng cuối đời thương con
nhớ cháu không nỡ rời thì không được vãng sanh.
[Đúng]
l) Người suốt đời niệm Phật nhưng cuối cùng tham luyến
tiền tài, danh vọng, nhà cửa... thì không được vãng
sanh. [Đúng]
m) Người tu hành lâu năm nhưng nghiệp chướng chưa
phá nổi, lại mập mờ đường giải thoát vẫn phải theo
sáu nẻo luân hồi. [Đúng]
n) Đới nghiệp vãng sanh không phải là theo nghiệp thọ
sanh, nhưng theo nguyện vãng sanh mà được vãng 
sanh. [Đúng]
o) Người còn nghiệp phải thọ nghiệp báo, không thể sanh
về TPCL. [Sai]
p) Người còn nghiệp mà được vãng sanh thì không đúng
định luật nhân quả. [Sai]
q) Vãng sanh là do nguyện lực cầu sanh hợp với nguyện
lực độ sanh của đức A-Đi Đà mà được. [Đúng]
r) Vãng sanh là “Tùng nguyện vãng sanh” chứ không
‘Tùng nghiệp thọ báo”, đây là lý đạo “Vạn pháp duy
tâm tạo”. [Đúng]
s) “Vạn pháp duy tâm sở hiện”, vãng sanh cũng do duy
tâm mà thành tựu. [Đúng]
t) “Vạn pháp giai không”, cứ mê mờ chấp vào cảnh giới
vô thường thì không thể thành tựu đạo nghiệp. [Đúng]
u) “Nhân quả bất không”, thì “Niệm Phật - Thành
Phật” là đỉnh cao của nhân quả. [Đúng]
v) Vì nhân quả không thể là không, nên phải mau tìm
đường vãng sanh để có khả năng hóa giải những
nghiệp nhân đã gây khổ sở cho chúng sanh. [Đúng]
w) Người tu thiện tích phước rất lớn thì chắc chắn được
vãng sanh Cực-Lạc. [Sai]
x) Người tu thiện tích phước rất lớn thì phước báu có thể
lớn hơn người không tu phước. [Đúng]
y) Người tu thiện phước lớn thì dễ hưởng phước trong
đời sau chứ không phải chắc chắn được vãng sanh
thành đạo. [Đúng]
z) Người tu thiện phước lớn khi chết ít bị bệnh khổ hành 
hạ hơn người kém phước. [Đúng]
aa) Phước báu lớn hỗ trợ tốt cho đường vãng sanh. Người
có Tín Nguyện Hạnh vững vàng và được cẩn thận hộ
niệm trợ duyên nữa thì rất dễ vãng sanh. [Đúng] 
 

23. Những điều mà mọi gia đình cần nên chú ý về hộ
niệm:  

a) Nên tìm hiểu về pháp hộ niệm càng sớm càng tốt để
biết rõ quy luật vãng sanh mà kịp thời hộ niệm giúp đỡ
nhau. [Đúng] 
b) Không hiểu quy luật hộ niệm, sẽ gây rất nhiều khó
khăn cho người thân. [Đúng] 
c) Bệnh nặng, bệnh viện đã chịu thua mà chưa lo hộ niệm
là điều sai lầm đáng tiếc! [Đúng] 
d) Gia đình không làm theo sự hướng dẫn của BHN thì
không được hộ niệm. [Đúng] 
e) Giao hết cho BHN, gia đình không cần hỗ trợ hộ niệm.
[Sai] 
f) Mỗi người phải lo niệm Phật tu hành, tự mình quyết
chí vãng sanh thì hộ niệm mới dễ có cơ hội thành tựu.
[Đúng] 
g) Người có niệm Phật cầu vãng sanh thì chắc chắn được
vãng sanh. [Sai] 
h) Phàm phu nghiệp nặng, dù có niệm Phật nhưng không
được hộ niệm trợ duyên thì cũng rất khó được vãng
sanh. [Đúng] 
i) Bi lụy, khóc lóc, buồn bã… trước mặt người bệnh là 
thể hiện sự thương yêu lo lắng cho nhau, không nên
ngăn cấm. [Sai] 
j) Bi lụy, than khóc, âu sầu... trước mặt người sắp chết là
vô tình làm cho người ra đi bị rối loạn tinh thần mà
chịu đọa lạc. [Đúng] 
k) Lúc tắt hơi cần than khóc, lay động, níu kéo... để giúp
cho người chết đỡ tủi thân. [Sai] 
l) Lúc tắt hơi mà than khóc, lay động, níu kéo... sẽ làm
cho người chết dễ bị đọa lạc vào ba đường ác. [Đúng] 
m) Vừa mới chết xong cần tắm rửa, thay y phục, trang
điểm để người chết vui lòng ra đi. [Sai] 
n) Đụng chạm vào xác thân quá sớm là vô tình tra tấn
người chết, làm cho họ bị nạn rất nặng, đời kiếp tương
lai chịu nhiều khổ đau. [Đúng] 
o) Lo xem ngày giờ tẩm liệm, chôn cất… mà không lo hộ
niệm là chỉ lo cái xác thân sắp tan hoại mà lại đày đọa
linh hồn người chết vào chốn tối tăm. Thật tội nghiệp!
[Đúng] 
p) Xin đừng đụng đến thân xác vừa mới tắt hơi, không
kêu khóc ồn náo. Hãy thành tâm niệm Phật cầu Phật
tiếp độ vãng sanh mới tốt. [Đúng] 
q) Lo sợ sự trùng tang, tìm thầy phá trùng thì người sống
khỏi bị bắt chết theo. [Sai] 
r) Phật dạy tất cả đều từ tâm tưởng mà sinh ra, người cứ
lo sợ bị ma bắt chết thì tự mình nguyện nạp mạng cho
ma vậy. [Đúng] 
s) Gia đình cứ chạy theo tập tục thế gian làm điều sai 
chánh pháp, thì tạo duyên cho người chết bị đọa lạc.
[Đúng] 
t) Ngày giỗ kỵ mà khấn nguyện linh hồn ông bà về phù
hộ thì khi lâm chung thường bị oán thân trái chủ trá
hình ra quyến thuộc để hãm hại mình. [Đúng] 
u) Giết hại sanh vật cúng tế, đãi tiệc trong ngày giỗ kỵ thì
bị tội sát sanh và vong nhân cũng liên can bị tội.
[Đúng] 
v) Người sát hại sanh vật, khi lâm chung nhất định sẽ bị
nạn oán thân trái chủ báo hại. [Đúng] 
w) Giỗ kỵ dùng trai chay, tụng kinh niệm Phật hồi hướng
công đức rất tốt. [Đúng] 
x) Trước bàn thờ tổ tiên hãy khấn nguyện người quá cố
niệm Phật cầu siêu sanh Tịnh-Độ thì rất tốt. [Đúng] 
y) Khi có người chết, gia đình rước Thầy Cúng về làm
phép tiếp độ thì người chết sẽ được vãng sanh. [Sai] 
z) Lên đồng, nhập bóng, chiêu hồn... là cách cầu siêu độ
người chết. [Sai] 
 

24. Hộ niệm khi người bệnh đang hấp hối:
a) Phải niệm đều đều bình thường theo âm giai ngũ âm
hoặc âm giai tứ âm. [Sai]
b) Niệm nguyên chất 4 chữ theo hơi thở của người lâm
chung từng tiếng chậm, mạnh và rõ ràng, thở một hơi
niệm “A…”, thở hơi nữa niệm “Di…”, v.v… [Đúng]
c) Nếu hơi thở quá chậm, một chu kỳ thở ra hít vào ta
niệm trọn “A… Di… Đà… Phật”, cần niệm mạnh và 
rõ ràng. [Đúng]
d) Nếu trước đó người bệnh yêu cầu niệm sáu chữ thì hãy
niệm nguyên chất sáu chữ rõ ràng. [Đúng]
e) Cần niệm nhẹ nhàng và nhỏ tiếng để tránh người bệnh
nhức đầu. [Sai]
f) Nên niệm rõ ràng và mạnh hơn bình thường để trợ lực
cho người ra đi. [Đúng]
g) Khuyên con cháu, thân nhân trong gia đình đồng lạy
Phật, cầu Phật phóng quang tiếp độ. [Đúng]
h) Chia phiên hộ niệm liên tục 24/24, không được rời.
[Đúng] 
 

25. Hộ niệm 24/24 là như thế nào?
a) Khi người bệnh quá yếu, người nhà phải túc trực bên
người bệnh 24/24 để chăm sóc, nhắc nhở niệm Phật.
Khi người bệnh cần nghỉ phải để họ nghỉ và người nhà
theo dõi, niệm Phật nhỏ bên cạnh. [Đúng]
b) Khi tới giai đoạn hấp hối thì BHN phải chia phiên hộ
niệm liên tục 24/24. [Đúng]
c) Khi thấy người bệnh đã yếu, thì BHN cắt cử mỗi ca 2
giờ thay phiên nhau niệm liên tục và bắt người bệnh
niệm Phật không gián đoạn. [Sai] 
 

26. Nếu người thân đột ngột xúc động, khóc lóc, kêu
réo khi người bệnh đang hấp hối hoặc tắt hơi thì
người hộ niệm ứng phó thế nào? 

a) Cứ tự nhiên tiếp tục niệm Phật vì chuyện tình cảm con
người bình thường ai cũng vậy. [Sai] 
b) Khuyên người nhà có thể khóc than nhưng đừng đứng
gần người bệnh. [Sai] 
c) Khuyên họ vào trong phòng khác, đóng kín cửa để than
khóc. [Sai] 
d) Người hộ thất phải chú ý bảo vệ hiện trường, lập tức kéo
người thân ra xa khuyên giải vì vấn đề này có thể làm
cho người bệnh mất vãng sanh. [Đúng] 
 

27. Người khai thị cần làm gì khi người bệnh vừa tắt
hơi? 

a) Khi thấy người bệnh ngưng hơi thở, cỡ chừng 1-2
phút, tức là biết chắc đã buông báo thân rồi, thì lúc đó
người trưởng ban phải khai thị cho họ, nói lớn một
chút: “Bác Trần văn X... pháp danh Y, giờ phút xả bỏ
báo thân đã đến rồi. Thân xác vô thường thật sự đã bỏ
rồi, giờ phút này là tối quan trọng để đi về TPCL, nhất
định tất cả mọi hiện tượng gì xảy ra trong lúc này
đừng để ý tới. Nhiếp tâm lại niệm A-Di-Đà Phật, theo
A-Di-Đà Phật về Tây-Phương. Bác nhìn đây là ảnh
tượng của Phật A-Di-Đà. Chỉ được theo A-Di-Đà Phật
để về Tây-Phương. Ngoài ra không được theo bất cứ
một vị nào khác nhé”. [Đúng] 
b) Niệm thật mạnh, thật đều câu A-Di-Đà-Phật. Lúc này
nếu có đông người đứng chấp tay cho trang nghiêm
niệm Phật càng tốt, càng có lực. [Đúng] 
c) Tất cả đồng tu dời ghế ngồi ra xa thật nhẹ nhàng, cách
người lâm chung khoảng 2 mét nếu được. [Đúng] 
d) Sau 30 phút có thể khai thị ngắn rồi đổi qua cách niệm
Phật thông thường để các thành viên có thể niệm lâu
dài, nhiếp tâm và có lực. [Đúng] 
 

28. BHN làm việc rất tốt, nhưng người chết mất phần
vãng sanh là do những nguyên nhân nào?  

a) Người bệnh vẫn còn sợ chết nên mất vãng sanh.
[Đúng] 
b) Người bệnh thầm cầu xin hết bệnh nên mất vãng sanh.
[Đúng] 
c) Người bệnh còn lo nghĩ về nghiệp chướng nên mất
vãng sanh. [Đúng] 
d) Lúc ra đi luyến ái người thân, thương nhớ con cháu
nên mất vãng sanh. [Đúng] 
e) Còn tham chấp vào nhà cửa, tài sản, danh vọng… nên
mất vãng sanh. [Đúng] 
f) Lúc lâm chung mà nguyện trở lại làm người gặp Minh
Sư, chùa lớn để tu hành nên mất vãng sanh. [Đúng] 
g) Thấy chúng sanh khổ quá, muốn ở lại đây cứu chúng
sanh nên mất vãng sanh. [Đúng] 
h) Tâm tánh thượng mạn không chịu thành tâm sám hối
lỗi lầm nên mất vãng sanh. [Đúng] 
i) Không giữ tâm khiêm hạ, cứ tự nghĩ mình đã chứng
đắc mà bị oán thân trái chủ trá hình hãm hại nên mất
vãng sanh. [Đúng] 
j) Tự mình không có niềm tin vãng sanh nên mất vãng
sanh. [Đúng] 
k) Tự mình không nguyện vãng sanh tha thiết nên mất
vãng sanh. [Đúng] 
l) Tự mình không muốn vãng sanh thì chắc chắn không
được vãng sanh. [Đúng] 
m) Tự mình khinh thường pháp hộ niệm, không chú tâm
làm theo lời hướng dẫn của BHN nên mất vãng sanh.
[Đúng] 
n) Nghiệp chướng quá nặng, lâm chung không vượt qua
nổi cận tử nghiệp nên mất vãng sanh. [Đúng] 
o) Bệnh khổ hành hạ đến điên đảo, không nghe được lời
khai thị hướng dẫn nên mất vãng sanh. [Đúng] 
p) Công phu niệm Phật quá yếu, lâm chung không nhiếp
tâm được vào câu Phật hiệu nên mất vãng sanh.
[Đúng] 
q) Tu hành quá xen tạp, lâm chung tâm trí hoang mang
bất định nên mất vãng sanh. [Đúng] 
r) Gia đình không hỗ trợ lại còn gây chướng ngại nên
mất vãng sanh. [Đúng] 
s) Người thân, bạn bè thăm hỏi, cứ bàn chuyện thế gian
gây rối loạn tâm trí nên mất vãng sanh. [Đúng] 
t) Trong nhà chất chứa: hành, tỏi, hẹ, kiệu, nén, ba-rô…
nhiều quá nên mất vãng sanh. [Đúng] 
u) Chích thuốc morphine nhiều quá làm mê man bất tỉnh
nên mất vãng sanh. [Đúng] 
 

29. Nếu người bệnh luyến nhớ đứa cháu, quyết lòng
muốn nhìn cho được mặt đứa cháu, thì giải quyết 
sao đây?  

a) Bắt buộc phải cách ly, chứ không thể chiều theo người
bệnh được. [Sai]
b) Nên hướng dẫn đứa cháu tới khuyên Bà Nội niệm Phật
cầu vãng sanh, rồi sau đó tìm phương cách ly sau. Nếu
đứa cháu ngoan ngoãn làm theo lời dạy của BHN thì
đây thật là một lời khai thị rất tốt. [Đúng]
c) Nếu người bệnh không chịu buông, mà quyết lòng
quyến luyến đứa cháu thì sẽ mất vãng sanh. [Đúng] 
 

30. Trong giây phút người bệnh hấp hối, BHN cần nên
hướng dẫn như thế nào? 

a) Khuyên nhắc gia đình đồng lạy Phật cầu Phật tiếp
dẫn. [Đúng] 
b) Người trưởng ban lớn tiếng khai thị, nhắc nhở người
bệnh, ví dụ: “Bác Tám ơi! Hãy bình tĩnh vui vẻ mừng
lên, vì đây là cơ duyên mà bác đã chờ trong bao nhiêu
ngày tháng qua. Giờ này hãy vững vàng, tin tưởng,
nhiếp tâm lại, niệm Phật theo đại chúng chờ A-Di-Đà
Phật đến theo Ngài đi vãng sanh nhé…”. [Đúng] 
c) Lớn tiếng nhắc nhở người bệnh nhiếp tâm niệm Phật
theo đại chúng, không để ý đến bất cứ cảnh giới gì
khác trong lúc này. [Đúng] 
d) Rồi cùng nhau niệm Phật mạnh để hỗ trợ. [Đúng] 
 

31. Những điều khác mà BHN nên chú ý khi thấy
người bệnh có dấu hiệu hấp hối: 

a) Nhắc nhở người thân trong gia đình không được làm 
ồn náo. [Đúng]
b) Nếu người bệnh nằm sát mé giường, nên nhẹ nhàng
chuyển họ vào giữa giường, ngừa bị rơi xuống đất khi
tắt hơi. [Đúng]
c) Phải báo cho người bệnh biết trước khi bồng họ vào
giữa giường: Bác Sáu ơi! Con đưa Bác vào giữa
giường cho thoải mái nhé. Nhiếp tâm niệm Phật theo
chúng con nhé. [Đúng]
d) Hướng dẫn gia đình lạy Phật cầu tiếp dẫn. [Đúng]
e) Nhắc nhở giọng niệm của đại chúng cho đều, mạnh.
[Đúng]
f) Tư thế đại chúng nên đứng lên trang nghiêm, thành
khẩn niệm Phật. [Đúng]
g) Nhẹ nhàng chuyển ghế ngồi xa hơn, cẩn thận tránh
gây tiếng động. [Đúng]
h) Chú ý ngăn chặn chó mèo tới gần nơi hộ niệm. [Đúng]
i) Người trưởng ban luôn có mặt tại hiện trường để theo
dõi diễn tiến, kịp thời khai thị. [Đúng]
j) Thỉnh thoảng người trưởng ban chắp tay thành tâm
khẩn nguyện cầu xin chư vị pháp giới có duyên buông
xả oán thù phát lòng niệm Phật trợ duyên. [Đúng]
k) Nhắc nhở gia đình nên liên lạc sớm với nhà quàn và lo
coi ngày giờ để tránh nạn trùng tang. [Sai]
l) Nhắc nhở những người thân dễ khóc nên ra ngoài,
hoặc cần phải đặc biệt theo dõi để kịp thời ngăn chặn.
[Đúng]
m) Không được khóc trước mặt người bệnh, nhưng người 
thân được quyền ôm nhau khóc trong buồng vì sẽ
không ảnh hưởng đến người chết. [Sai] 
n) Nếu người ra đi quyến luyến gia đình nặng quá thì nên
khuyên gia đình cách ly trong lúc lâm chung. [Đúng] 
o) Người trong gia đình bắt buộc phải cách ly thì mới hộ
niệm được. [Sai] 
p) Nếu người trong gia đình hiểu đạo và biết quy luật trợ
niệm thì hộ niệm cho nhau rất tốt. [Đúng] 
q) Những thành viên BHN dễ xúc động, thường rơi nước
mắt phải rời xa hiện trường lúc người bệnh lâm
chung. [Đúng] 
r) Sau khi tắt hơi khoảng 30 phút, nên khai thị một lần
nữa nhắc nhở người ra đi nhiếp tâm niệm Phật, không
nên chao đảo. (Xem thêm phụ lục ở phần cuối) [Đúng] 
 

32. Sau khi tắt hơi là thời khoảng rất quan trọng,
người khai thị nên: 

a) Trong 2 giờ đầu, từng khoảng 30 phút người trưởng
BHN nên khai thị, ví dụ: “Bác Sáu ơi! Đã bỏ báo thân
rồi, không còn lý do gì để mà chần chừ do dự. Phải
định tâm lại đừng phân vân nữa. Niệm A-Di-Đà Phật
với đại chúng, theo A-Di-Đà Phật về Tây Phương Cực
Lạc”... [Đúng] 
b) Tùy theo trường hợp có thể uyển chuyển khai thị thêm.
[Đúng] 
c) Sau 2 giờ có thể niệm một giờ khai thị một lần và niệm
Phật theo giọng thường niệm. [Đúng] 
d) Mỗi lần thay phiên nên hồi hướng công đức và khai thị
thêm nhắc nhở hương linh đi vãng sanh. [Đúng] 
e) Phải chờ ca sau sẵn sàng rồi mới được rời đi. [Đúng] 
 

33. Vấn đề thăm thân có cần thiết không? Tại sao?
a) Không cần thiết, vì đây chỉ là sự hiếu kỳ, không giúp
ích gì cho người chết mà còn có thể gây hại cho họ.
[Sai]
b) Rất cần thiết, nhưng nên thăm sau 12 giờ mới an toàn,
nhằm để biết người ra đi có bị trở ngại gì không mà
kịp thời hóa giải. [Đúng]
c) Tùy duyên, thăm cũng được mà không thăm cũng
được. [Sai]
d) Sắc tướng xấu mới cần thăm, thấy sắc tướng tốt thì
không cần. [Sai] 
 

34. Những trường hợp nào gọi là bị trở ngại?
a) Thân xác còn ấm nhiều nơi. [Đúng]
b) Thân xác bị cứng, sắc tướng xấu. [Đúng]
c) Thân xác đang chuyển biến, có nơi mềm, có nơi còn
cứng. [Đúng] 
 

35. Khi bị trở ngại, hóa giải bằng cách nào?
a) Ngừng ngay việc thăm, không được tắm rửa hoặc thay
áo quần. Cần hộ niệm thêm 4 đến 8 giờ nữa. [Đúng]
b) Trưởng BHN nên hỏi người nhà để tìm ra điều vướng
mắc chính mà khai thị thẳng vào đó để hóa giải. [Đúng] 
c) Nếu tìm được đúng điều vướng mắc, khai thị thẳng vào
điều đó thì thân tướng có thể liền được chuyển biến
tốt, nghĩa là vướng mắc đã được hóa giải. [Đúng] 


Chương 7:
 
SƠ SUẤT KHI HỘ NIỆM

Đến nay khắp nơi trên thế giới có rất nhiều BHN được
thành lập đi hộ niệm giúp người vãng sanh. Thật là sự phát
tâm cao quý, công đức vô lượng, đáng được tán thán và tuyên
dương. Nhờ được hộ niệm mà nhiều người khi xả bỏ báo
thân có hiện tượng vãng sanh vi diệu, bất khả tư nghì. 
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, chúng ta cũng
phải chấp nhận rằng có một số hiện tượng tiêu cực đã xảy ra,
gây nên sự hiểu lầm đáng tiếc, ảnh hưởng chung đến pháp hộ
niệm! Chúng tôi xin tạm gọi chung là: SƠ SUẤT KHI HỘ
NIỆM.
Hộ niệm là chánh pháp nhưng nếu để điều sơ suất xảy
ra nhiều quá thì chánh pháp rất dễ bị mai một, cơ duyên cứu
độ chúng sanh sẽ mất đi!...
Tập sách này cố gắng nêu ra một số vấn đề điển hình,
hy vọng đóng góp phần nào vào tài liệu học tập căn bản cho
các BHN gần xa. Xin chư vị hộ niệm xem qua, phát hiện
những điều sơ suất và tìm cách khắc phục.



1. Những sơ suất khi hộ niệm được hàm ý gì?
a) Pháp hộ niệm có nhiều điều không đúng với chánh
pháp. [Sai] 
b) Pháp hộ niệm không thích hợp với khoa học, cần phải
tu chính lại. [Sai] 
c) Người hộ niệm vô tình hoặc không vững quy luật hộ
niệm mà thực hiện không đúng pháp. [Đúng] 
 

2. Để phát triển và bảo tồn pháp hộ niệm:
a) Người hộ niệm nên nghiên cứu cẩn thận pháp hộ niệm
vãng sanh để thực hiện theo đúng chánh pháp, tránh tự
ý thêm bớt hay xen tạp. [Đúng]
b) Vấn đề đào luyện các BHN để nắm vững phương thức
hộ niệm là nhu cầu vô cùng thiết yếu. [Đúng]
c) Tài liệu về hộ niệm vãng sanh cần nên phổ biến rộng
rãi giúp nhiều người biết rõ hơn về pháp hộ niệm.
[Đúng] 
 

3. Nguyên nhân sinh ra những sơ suất khi hộ niệm:
a) Hiện nay nhiều BHN tự phát, đầy nhiệt tâm nhưng
thiếu nghiên cứu kỹ lưỡng, nên thường bị sơ suất.
[Đúng]
b) Có BHN chưa có kinh nghiệm, nên khi vào thực hành
thường bị sơ suất. [Đúng]
c) Người hộ niệm nhiều năm nhưng vì quá chủ quan vẫn
có thể bị sơ suất. [Đúng]
d) Có người lầm tưởng rằng hộ niệm là pháp cầu siêu
hoặc cầu an nên tạo ra nhiều sơ suất. [Đúng]
e) Có BHN chưa được học tập qua pháp hộ niệm, chỉ dựa
theo tập tục thế gian nên tạo ra sơ suất. [Đúng]
f) Có BHN không vững nội quy, thành viên không hợp 
nhất, tạo ra từ trường không tốt, mất sự cảm ứng đạo
giao. [Đúng] 
g) Có BHN ít chú trọng nêu rõ ràng quy luật hộ niệm cho
gia đình biết, nên hộ niệm thường bị trở ngại. [Đúng]  
h) Có người hộ niệm mà lại khởi vọng tưởng sai lầm rằng
mình có năng lực đặc biệt cứu người vãng sanh nên
tạo ra sơ suất. [Đúng] 
i) Hộ niệm không chuyên nhất niệm Phật, cứ xen tạp các
pháp lạ mà tạo ra sơ suất. [Đúng] 
j) Thời này ít người có niềm tin vào Phật pháp, không tin
sự vãng sanh nên gây ra nhiều trở ngại cho việc hộ
niệm. [Đúng] 
k) Hộ niệm vãng sanh quá vi diệu. Tuy nhiên do sơ suất
của một số BHN mà làm nhiều người mất niềm tin.
[Đúng] 
l) Hộ niệm quá vi diệu cần được sự hỗ trợ, nhưng phải
khắc phục những hiện tượng tiêu cực đang xảy ra mới
tốt. [Đúng] 
m) Nhìn chung, sự sơ suất xảy ra hầu hết do người hộ
niệm chưa nắm vững quy luật hộ niệm mà vô tình tạo
nên. [Đúng] 
n) Sơ suất là hiện tượng rất tự nhiên, từ từ mọi người sẽ
hiểu ra vấn đề và tự điều chỉnh lấy. [Sai] 
 

4. Những điều cần chú ý khi thăm thân xác: 
a) Không cần thăm thân, chỉ nên hộ niệm đến 12 giờ rồi
hồi hướng công đức là xong việc hộ niệm. [Sai]  
b) Vội vàng tắm rửa hoặc giao xác cho nhà quàn mà
không thăm thân trước thì người chết có thể bị nạn
nặng nề. [Đúng] 
c) Người chết sau vài tiếng đồng hồ thì có thể thăm thân
được. [Sai] 
d) Trong vòng 8 giờ có thể thần thức chưa xuất ra khỏi
xác, nếu đụng chạm đến làm cho người chết dễ bị đọa
lạc. [Đúng] 
e) Đợi lâu có thể bị ảnh hưởng bởi mùi tử khí, ô nhiễm
môi trường. Sự thăm thân cần nên giải quyết càng sớm
càng tốt. [Sai] 
f) Muốn thăm thân cần phải chờ ít nhất sau 8 tiếng đồng
hồ, tốt nhất hãy để 12 tiếng đồng hồ thì mới an toàn.
[Đúng] 
g) Thăm thân rất cần thiết vì để biết chắc chắn toàn thân
đã lạnh hết, bảo đảm thần thức đã hoàn toàn lìa khỏi
xác mà an tâm tắm rửa, tẩm liệm… không sợ ảnh
hưởng đến tương lai của người ra đi. [Đúng] 
h) Nhờ thăm thân mà phát hiện sớm sự trở ngại, kịp thời
khai thị hóa giải giúp cho người chết có cơ hội vãng
sanh. [Đúng] 
i) Nhờ thăm thân mà có thể biết rõ tình trạng cụ thể, nhờ
thế người hộ niệm an tâm chấm dứt cuộc hộ niệm, gia
đình an tâm lo liệu hậu sự. [Đúng] 
j) Người tu cao thì có thể thăm sớm, người tu càng dở
càng phải đợi lâu hơn. [Sai] 
k) Thăm thân mà lay động thân xác quá nhiều là điều 
không nên làm. [Đúng]
l) Nhiều người thay phiên nhau đến thăm thân để cùng
biết sự vi diệu của pháp hộ niệm. [Sai]
m) Người hộ niệm giỏi hoặc người có đạo lực đặc biệt
mới có quyền thăm thân. [Sai]
n) Trước khi thăm phải cẩn thận báo cho thần thức người
chết biết trước. [Đúng]
o) Thăm thân phải nhẹ nhàng, thận trọng, nên thăm từ
trên đầu thăm xuống. [Sai]
p) Thăm thân phải nhẹ nhàng, thận trọng, nên thăm từ
dưới lòng bàn chân thăm lên mới an toàn hơn. [Đúng]
q) Chỉ cần một hoặc hai người đại diện thăm thân là đủ. 
[Đúng]
r) Hơi ấm xuất hiện trên thân xác ở phần càng cao thì
càng có cảm ứng tốt. [Đúng] 
s) Nếu hơi ấm ở phần dưới là cuộc hộ niệm bị trở ngại,
nhưng nếu biết sớm được thì vẫn còn cơ hội để BHN
hóa giải. [Đúng]
t) Người có thần lực đặc biệt chỉ cần nhìn thì biết, không
cần thăm thân. [Sai]
u) Thăm thấy toàn thân đã lạnh hết và mềm mại, đây là
dấu hiệu tốt, mọi người được an tâm. [Đúng]
v) Thăm thấy toàn thân đã lạnh và mềm mại thì chắc chắn
được vãng sanh. [Sai]
w) Thăm thấy toàn thân đã lạnh và mềm mại thì có thể
được vãng sanh. [Đúng]
x) Toàn thân lạnh, đỉnh đầu còn ấm nhẹ, thân xác mềm 
mại tươi hồng thì xác suất vãng sanh rất cao. [Đúng]  
y) Toàn thân lạnh, đỉnh đầu còn ấm nhẹ, thân xác mềm
mại tươi hồng, trước khi ra đi người đó báo cho biết
đã thấy A-Di-Đà Phật đến tiếp dẫn thì chắc chắn được
vãng sanh. [Đúng]
z) Toàn thân lạnh, đỉnh đầu dù không còn ấm, thân xác
mềm mại tươi hồng, trước khi ra đi người đó báo đã
thấy A-Di-Đà Phật đến tiếp dẫn, thì vẫn vững tin rằng
được vãng sanh. [Đúng]
aa) Toàn thân lạnh, đỉnh đầu còn ấm nhẹ, thân xác mềm
mại tươi hồng, người đó niệm Phật cầu vãng sanh đến
giây phút cuối cùng, thì có thể tin tưởng rằng được
vãng sanh. [Đúng]
bb) Toàn thân lạnh, đỉnh đầu không còn ấm, thân xác mềm
mại tươi hồng, người đó niệm Phật cầu vãng sanh đến
giây phút cuối cùng, thì vẫn có thể tin tưởng rằng được
vãng sanh. [Đúng]
cc) Toàn thân lạnh, đỉnh đầu rất ấm, thân xác mềm mại
tươi hồng, đây là điềm cảm ứng tốt, nhưng phải cẩn
thận niệm Phật trợ duyên thêm 2 đến 4 giờ nữa cho sự
vãng sanh được vững vàng hơn. [Đúng]
dd) Thăm thân mà thấy nhiều chỗ còn ấm, phải ngừng
ngay việc thăm. BHN nên tiếp tục khai thị và hộ niệm
thêm khoảng 4 đến 8 giờ nữa. Khi nào toàn thân lạnh
hết mới an toàn. [Đúng] 
 

5. Tại sao phải lên tiếng báo cho người chết biết trước 
khi thăm thân?

a) Cẩn thận ngừa trường hợp thần thức còn vướng trong
thân xác bị đụng chạm bất ngờ sẽ đau đớn, kinh sợ.
[Đúng]
b) Đã chết rồi thì không còn biết gì nữa, nên không cần
phải thông báo gì cả. [Sai]
c) Thấy tướng xấu hiện ra thì phải thông báo, còn tướng
đẹp thì không cần. [Sai] 
 

6. Tại sao thăm thân phải nhẹ nhàng, không được làm
mạnh? 

a) Phải tỏ ra thương kính đối với người ra đi, tôn trọng
tình cảm của thân nhân, bạn hữu. [Đúng] 
b) Nếu đã được vãng sanh, càng phải tôn kính nhục thân
của một vị Bồ-Tát. [Đúng] 
c) Ngừa trường hợp thần thức chưa ra khỏi xác, người ra
đi sẽ bị trở ngại khi đụng chạm đến. [Đúng] 
 

7. Khi thân xác bị cứng, có thể xử lý cách nào?
a) Dùng khăn nhúng nước nóng đắp vào các khớp xương
thì sẽ từ từ mềm ra. [Đúng]
b) Người hộ niệm có những loại thuốc đặc biệt làm cho
xác chết mềm mại. [Sai]
c) Có những thần chú đặc biệt đọc lên thì thân xác sẽ
mềm. [Sai] 
 

8. Một thân xác được xử lý cho mềm mại có được coi
là thoại tướng tốt không? 

a) Nếu người chết có công phu tu hành lâu năm thì có thể
được. [Sai] 
b) Không thể coi là thoại tướng được, mà đây chỉ là tác
dụng của sự xoa bóp cho tiện việc hậu sự. [Đúng] 
c) Thoại tướng tốt là do sự cảm ứng tự nhiên hiện ra, chứ
không thể do con người xử lý mà được. [Đúng] 
 

9. Chiếc mền Quang Minh:
a) Bắt buộc phải có mền quang minh, không có mền
quang minh không thể hộ niệm được. [Sai]
b) Khi lâm chung nếu được đắp mền quang minh sẽ có sự
hỗ trợ tốt, nhưng không phải là điều bắt buộc phải có.
[Đúng]
c) Có thể đắp mền quang minh khi thấy người bệnh rơi
vào tình trạng yếu đuối. [Đúng]
d) Mền quang minh phải đắp phủ qua đầu người bệnh.
[Sai]
e) Chỉ được đắp phủ qua mặt khi người bệnh đã tắt hơi.
[Sai]
f) Đang lúc hộ niệm, chỉ nên đắp mền quang minh tới cổ,
không nên đắp phủ qua mặt. [Đúng]
g) Khi đang hộ niệm T/P BHN cần quan sát sự chuyển
biến trên mặt người ra đi để kịp thời tìm cách hổ trợ,
nên không đắp mền quang minh phủ qua mặt. [Đúng] 
 

10. Vấn đề trở ngại giữa chừng khi đang hộ niệm:
a) Người trong gia đình không biết quy luật hộ niệm nên
thường tạo ra sự trở ngại cho việc hộ niệm. [Đúng] 
b) Người trong gia đình không tin tưởng Phật pháp
thường cản ngăn, chống phá, gây trở ngại. [Đúng] 
c) Không có sự đồng thuận của gia đình mà người hộ
niệm phan duyên nên bị trở ngại. [Đúng]  
 

11. Để giảm thiểu chướng ngại khi hộ niệm:
a) Cần phổ biến pháp hộ niệm càng rộng rãi càng tốt.
[Đúng] 
b) Cần giải thích, hướng dẫn rõ ràng quy luật trợ niệm
cho gia đình biết và gia đình phải chấp nhận làm đúng
quy luật hộ niệm. [Đúng] 
c) BHN có thể yêu cầu mọi người trong gia đình ký tờ
cam kết thực hiện đầy đủ quy luật hộ niệm trước khi
nhận ca. [Đúng] 
d) Cần hướng dẫn gia đình biết cách hộ niệm và chăm
sóc người bệnh theo đúng pháp hộ niệm. [Đúng] 
e) Khi người bệnh sắp chết thì mới bắt đầu hộ niệm. [Sai] 
f) Mọi người cần nghiên cứu kỹ pháp hộ niệm và chuẩn
bị trước mới tốt. [Đúng] 
g) Khi thấy người bệnh yếu thì BHN phải chia ca hộ niệm
liên tục 24/24. [Sai] 
h) Khi hộ niệm 24/24 phải yêu cầu người bệnh thức suốt
để niệm Phật với BHN. [Sai] 
i) Người bệnh quá yếu, BHN tăng cường ca hộ niệm, gia
đình cần có người ở sát bên cạnh 24/24 để niệm Phật
và báo cho P/T BHN mọi diễn biến. [Đúng] 
j) Đến giai đoạn hấp hối thì BHN phải thay phiên hộ 
niệm 24/24. [Đúng] 
k) Người phụ trách việc hướng dẫn khai thị cần chuẩn bị
trước sự khai thị mới tốt. [Đúng] 
l) Mọi thành viên hộ niệm cần nhiếp tâm niệm Phật cầu
gia trì tiếp độ, không được tự động xen vào việc khai
thị hướng dẫn. [Đúng] 
 

12. Khi vừa tắt hơi, cần chú ý:
a) Người hộ niệm nên đứng lên thành khẩn chắp tay niệm
Phật trợ duyên. [Đúng]
b) T/P BHN lớn tiếng khai thị: “Bác Chín ơi! Đã xả bỏ
báo thân rồi, mau mau định tâm lại, quyết lòng niệm
A-Di-Đà Phật, theo A-Di-Đà Phật vãng sanh Tây
Phương Cực-Lạc nhé”. [Đúng]
c) Nên nhẹ nhàng di chuyển ghế ngồi ra xa trên 2 mét
(nếu được). [Đúng]
d) Nếu ngồi quá gần có thể bị lây bệnh. [Sai]
e) Phải có khoảng cách đủ an toàn, để mọi sự di động
không gây ảnh hưởng đến người ra đi. [Đúng]
f) Nếu môi trường không cho phép ngồi xa, thì phải hết
sức thận trọng, tránh gây tiếng động ồn náo, tránh di
động nhiều. [Đúng]
g) Không ai được quyền đi lại, hay lên tiếng trong khu
vực gần người bệnh. [Đúng]
h) Có thể quay video, nhưng động tác phải thận trọng,
nhẹ nhàng, quay từ xa, không được dùng đèn. [Đúng]
i) Không được chụp hình vì chụp hình thường gây tiếng 
động và lóe ánh sáng. [Đúng]
j) Người thân không được kêu khóc, ồn náo. [Đúng]
k) Không được để máy quạt thổi thẳng vào thân xác
người đã tắt hơi. [Đúng]
l) Không được đụng chạm vào thân xác người ra đi trong
khoảng 8 giờ, bảo vệ đến 12 giờ thì an toàn hơn.
[Đúng] 
 

13. Vấn đề tự xưng có năng lực cứu độ chúng sanh:
a) Người chơn chánh tu hành không bao giờ tự khoe
trương về năng lực của mình. Khoe trương là điều
Phật và chư Tổ cấm. [Đúng]
b) Tự xưng mình có năng lực thuộc về tội đại vọng ngữ.
Người tu hành mà có tâm thượng mạn rất dễ bị ma
chướng ám hại. [Đúng]
c) Một người nếu thực sự đã chứng đắc mới được quyền
tự khoe năng lực của mình. [Sai]
d) Tự xưng có năng lực gì đó là do vọng tưởng mà sanh
ra, nhất định không thể là chánh đạo được. [Đúng]
e) Một người được vãng sanh là do chính họ thực hiện
đúng Tín-Nguyện-Hạnh, chứ không phải do năng lực
của người hộ niệm. [Đúng]
 

 14. Giữ tâm thanh tịnh, khiêm cung tu hành có lợi lạc
gì? 

a) Dễ dàng hộ niệm, dễ hóa giải chướng nạn. [Đúng]
b) Được chư Bồ-Tát, Thiên Long, Hộ Pháp gia trì, tránh 
được nạn ma chướng. [Đúng]
c) Dễ cảm ứng đạo giao, dễ vãng sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
 

15. Vấn đề lay động thân xác người chết quá mạnh khi
thăm thấy có thoại tướng tốt: 

a) Nếu người đó đã vãng sanh rồi, thì hành động này thật
bất kính đối với nhục thân của một vị Bồ-Tát. [Đúng] 
b) Đây là hành động bất cẩn, làm thân nhân đau lòng, bị
nhiều người chỉ trích nặng nề. [Đúng] 
c) Nếu chưa được vãng sanh sẽ ảnh hưởng bất lợi cho sự
chuyển hóa của tâm thức. [Đúng] 
d) Tổng quát, thăm thân tướng nên sau 12 giờ, thăm nhẹ
nhàng, không được lay động mạnh. [Đúng] 
 

16. Cần chú ý khi khai thị hướng dẫn người bệnh:
a) Trong một buổi hộ niệm, mọi người nên cùng nhau
khai thị hướng dẫn người bệnh để tránh điều thiếu sót.
[Sai]
b) Sự khai thị hướng dẫn chỉ dành riêng cho chư vị Tăng Ni,
mới đúng pháp. [Sai]
c) Chư vị Tăng-Ni nào nắm vững pháp hộ niệm thì rất
hợp để giữ phần khai thị, chứ không phải là sự dành
riêng. [Đúng]
d) Thực tế Tăng-Ni thường không đủ nhân lực và thời
gian để đảm trách hết các ca hộ niệm, nên các vị T/P
BHN, hoặc người đã được giao phó trước thường phải
giữ việc khai thị hướng dẫn. [Đúng]
e) Chủ yếu là người biết pháp hộ niệm, có kinh nghiệm 
thì khai thị hướng dẫn mới tốt. [Đúng]
f) Khai thị chủ yếu khai mở được những đạo lý cao siêu
giúp người bệnh dễ giác ngộ. [Sai]
g) Khai thị chủ yếu là tìm cách hóa giải thẳng vào những
sự vướng mắc của người bệnh. [Đúng]
h) Khả năng lý luận sắc bén, lý đạo vững vàng là điểm
quan trọng để khai thị. [Sai]
i) Khai thị vòng vo, lý lẽ dài dòng thường không có tác
dụng tốt vì người bệnh không còn sức để tiếp nhận.
[Đúng]
j) Cung cách khai thị không nên quá trang nghiêm nhằm
giúp cho tinh thần người bệnh bớt căng thẳng. [Đúng]
k) Khai thị thường dưới hình thức một buổi tâm tình, chia
sẻ, an ủi, khuyến tấn, nhắc nhở lẫn nhau. [Đúng]
l) Khai thị nên giảng chung chung là điều tốt vì tránh cho
người bệnh những sự phiền não vô ích. [Sai]
m) Khai thị nhắm thẳng đến sự vướng mắc của từng
người, chứ không phải giảng chung chung. [Đúng]
n) Người khai thị cần phải tỏ ra hiểu đạo, vững lý là yếu
tố quan trọng để giúp người bệnh tin tưởng. [Sai]
o) Khai thị hướng dẫn cần đến lòng chân thành, tín cẩn,
từ bi hơn là khả năng lý luận. [Đúng]
p) Khai thị cần đến Tín-Nguyện-Hạnh của người hộ niệm
hơn là khả năng thuyết giảng. [Đúng]
q) Khai thị là khai mở “Tri Kiến Phật”, chỉ bày “Tri Kiến
Phật” cho người bệnh hiểu thấu. [Sai]
r) Khai thị không phải chỉ có lời nói, mà còn cử chỉ, tư 
cách, tâm lý... [Đúng]
s) Khai thị luôn luôn phải có giọng điệu vững vàng, mạnh
mẽ để phá tan nghiệp chướng, hóa giải nạn oán thân
trái chủ. [Sai]
t) Khai thị cần biết kết hợp yếu tố tâm lý, phương tiện
khéo léo. Nói rõ hơn, có lúc cần mềm mỏng, có lúc cần
mạnh mẽ… tùy theo từng trường hợp mà uyển chuyển
cho thích hợp. [Đúng] 
 

17. Vấn đề điều giải oán thân trái chủ:
a) Điều giải oán thân trái chủ, mọi người phải trang
nghiêm thành khẩn, không được đùa giỡn. [Đúng]
b) Người có năng lực đặc biệt mới điều giải được nạn oán
thân trái chủ. [Sai]
c) Điều giải oán thân trái chủ là dùng lòng chân thành để
hòa giải chứ không phải dùng năng lực gì đặc biệt để
đấu tranh. [Đúng]
d) Nhưng dù sao có một năng lực mạnh vẫn là điều quan
trọng để trấn áp oán thân trái chủ khi cần. [Sai]
e) Phải mở lòng từ bi khuyên giải, tuyệt đối không có một
ý niệm trấn áp để tránh gây oán thù với pháp giới
chúng sanh. [Đúng]
f) Oán thân trái chủ là loài ma quỷ, không đáng phải kính
trọng. [Sai]
g) Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh. Phải cung kính,
thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của chúng
sanh mà tìm cách cứu họ. [Đúng] 
h) Hộ niệm là chú tâm cứu người bệnh, không thể nhân
nhượng oán thân trái chủ được. [Sai] 
i) Pháp Phật bình đẳng. Hãy chân thành khuyên họ
buông bỏ oán thù, phát tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
chấm dứt khổ đau. [Đúng]
j) Sẵn sàng điều giải, nhưng nếu không được thì mới
dùng đến áp lực buộc họ phải quy hàng. [Sai] 
k) Điều giải cần đến lòng từ bi và sự kiên nhẫn, tất cả
đều có nhân duyên quả báo, không nên đấu tranh hay
áp bức chúng sanh. [Đúng]  
l) Mỗi lần hồi hướng công đức đều nên hồi hướng cho
oán thân trái chủ để hóa giải oán thù mới tốt. [Đúng] 
 

18. Vấn đề dùng áp lực để giải quyết nạn oán thân trái
chủ: 

a) Dùng áp lực để giải quyết thường giúp cho người bệnh
dễ dàng thoát nạn. [Sai] 
b) Làm cho sự oán thù càng thêm hung hãn, rất khó hóa
giải. [Đúng] 
c) Đây là hành động không đúng chánh pháp của Phật,
cần phải tránh. [Đúng] 
d) Xử sự không kiên nhẫn, không bình đẳng là tự gây nên
rắc rối cho chính mình sau này. [Đúng] 

 
19. Vấn đề hộ niệm và bệnh truyền nhiễm:

a) Thông thường các bệnh truyền nhiễm, nhưng không
truyền qua đường hơi thở có thể hộ niệm tốt. [Đúng]
b) Nếu đã có lệnh cấm tiếp cận người bệnh, thì người hộ 
niệm phải chấp hành lệnh cấm, không được khinh suất
phá luật. [Đúng] 
c) Gặp một người bị bệnh truyền nhiễm, cần nên hỏi qua
ý kiến của bác sĩ rồi tùy cơ hộ niệm. [Đúng] 
d) Đã phát tâm làm đạo cứu người thì cứ tự nhiên hộ
niệm, không cần lo ngại gì cả. [Sai] 
e) Nếu BHN hành sự thiếu quy tắc có thể vi phạm pháp
luật, gây xáo trộn trật tự xã hội, và bị đánh giá cực
đoan. [Đúng] 

 
20. Vấn đề thiết lập bàn thờ Phật trang nghiêm để hộ
niệm:  

a) Phải lập bàn thờ trang nghiêm để hộ niệm. [Sai]
b) Pháp hộ niệm không bắt buộc phải lập bàn thờ trang
nghiêm, mà cần hoàn cảnh tự nhiên, thân thiện để giúp
cho tinh thần người bệnh được thoải mái, bớt căng
thẳng, bớt lo ngại về những tình huống bất kính (như
khi tiểu tiện…). [Đúng]
c) Cần treo một mẫu hình A-Di-Đà Phật ở nơi nào mà
người bệnh dễ nhìn thấy thì rất cần thiết, không thể
thiếu. [Đúng]
d) Nếu muốn lập bàn thờ thì nên đơn giản, chỉ dùng làm
nơi cho gia đình lạy Phật cầu gia trì là đủ. [Đúng] 
 

21. Vấn đề đèn, nhang, hoa, quả... trong buổi hộ niệm:
a) Cần phải dâng cúng lễ vật trịnh trọng mới tốt, vừa thể
hiện lòng thành kính vừa tạo cảnh trang nghiêm cho
buổi hộ niệm. [Sai] 
144
 
Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm 
b) Không bắt buộc phải có lễ vật, vì buổi hộ niệm nặng về
sự hướng dẫn người bệnh niệm Phật, chứ không phải
là một pháp đàn. [Đúng] 
c) Có thể đốt nhang, trầm để không khí được thanh sạch,
dễ chịu chứ không phải là lễ dâng hương. [Đúng] 
d) Có thể có hoa, quả, nhang, đèn... nhưng không nên
quá chú trọng việc này mà gây tốn kém tiền bạc của
gia chủ. [Đúng] 
 

22. Vấn đề quyên góp tịnh tài để giúp đỡ cho gia đình
người bệnh: 

a) Vì tâm từ bi, BHN nên làm việc này để giúp đỡ những
trường hợp khó khăn. [Sai] 
b) BHN không được tạo ra lệ quyên góp tiền bạc. Nếu ai
muốn bố thí cúng dường thì đây là sự phát tâm riêng,
cá nhân nên tự làm lấy. [Đúng]  
c) BHN không được vận động tiền bạc dưới bất cứ hình
thức gì, chỉ nên chuyên chí vào mục đích cao quí là hộ
niệm vãng sanh mới tốt. [Đúng] 
d) Người hộ niệm phải cẩn thận ngăn ngừa mọi phát sinh
tiêu cực liên quan đến tiền bạc, dẫn đến sự sai lệch về
sau, làm mất niềm tin của đại chúng. [Đúng] 
 

23. Vấn đề: Hộ Niệm - Quốc Gia - Tôn Giáo.
a) Hộ niệm là việc làm chánh pháp thì BHN có thể tự do
hành động, miễn sao không trái với lương tâm là được,
không cần phải theo một quy chế nào. [sai]
b) Phải tuân thủ luật lệ quốc gia. BHN làm đúng chánh 
pháp tạo sự lợi lạc cho đại chúng thì sẽ được luật lệ
quốc gia bảo vệ. [Đúng] 
c) Hộ niệm vãng sanh là một phần của sinh hoạt Phật
giáo, BHN không được có ý niệm độc lập với giáo hội.
[Đúng] 
d) Các BHN cần giữ mối liên hệ tốt với các tự viện, chùa
chiền, tôn trọng chư Tăng-Ni để sự hộ niệm được
thuận duyên. [Đúng] 
e) Những nơi không tu theo Tịnh-Độ thì không niệm Phật
cầu vãng sanh, người hộ niệm phải tôn trọng tất cả
pháp môn của Phật. [Đúng] 
f) Hộ niệm phải thuận duyên, cần uyển chuyển để có
nhiều cơ hội cứu người vãng sanh. Đây là tâm nguyện
của người hộ niệm. [Đúng] 
 

24. Vấn đề sơ ý thêm bớt vào pháp hộ niệm:
a) Ý kiến cá nhân nên được tôn trọng để nhiều người vui
vẻ tham gia, pháp hộ niệm dễ phát triển tốt. [Sai]
b) Nếu người hộ niệm tự ý thêm bớt thì pháp hộ niệm dần
dần sẽ bị sai lệch, sau này không còn ai tin tưởng vào
pháp hộ niệm nữa. [Đúng]
c) Mỗi người tự ý thêm một chút, chánh pháp mau chóng
biến thành tà pháp. [Đúng]
d) Chư Tổ thường nghiêm khắc ngăn cấm việc tự ý thêm
bớt vào pháp Phật. [Đúng]
e) Xen tạp là đại tối kỵ của pháp niệm Phật vãng sanh,
người hộ niệm không được nghĩ sao làm vậy. [Đúng] 
f) Làm việc gì đều phải nghĩ đến vấn đề Nhân-Quả,
người hộ niệm phải chú ý làm như lý như pháp, không
được tự ý thêm bớt. [Đúng] 
 

25. Vấn đề nghi thức hộ niệm:
a) Phải đặt người bệnh nằm đầu hướng về bắc, mặt
hướng về tây mới được vãng sanh. [Sai]
b) Pháp hộ niệm hoàn toàn không có quy định về hướng
nằm của người bệnh. [Đúng]
c) Phải sắp xếp người bệnh nằm theo thế “Kiết Tường”,
nghĩa là nằm nghiêng về bên phải thì mới dễ được
vãng sanh. [Sai]
d) Cần để người bệnh tự do nằm theo cách nào mà họ
cảm thấy thoải mái nhất mới tốt. [Đúng]
e) Cần phải có nghi thức khai lễ, dâng hương, phục
nguyện... trang nghiêm trước một buổi hộ niệm mới
tốt. [Sai]
f) Buổi hộ niệm nặng về khai thị giải tỏa vướng mắc của
người bệnh, hướng dẫn họ thực hiện đầy đủ TínNguyện-Hạnh
để vãng sanh, chứ không phải là một lễ đàn hay một thời khóa
công phu nên không cần đến nghi thức khai lễ. [Đúng]
g) Cần phải niệm 108 danh hiệu Phật hoặc xướng tán
trang nghiêm trước một ca hộ niệm. [Sai]
h) A-Di-Đà Phật là danh hiệu chung của ba đời mười
phương tất cả chư Phật, thành tâm niệm A-Di-Đà Phật
là niệm đầy đủ tất cả chư Phật. [Đúng] 
i) Khởi đầu một buổi hộ niệm, có thể xá Phật 3 xá rồi
đọc câu: “Nam Mô Tây Phương Cực-Lạc Thế Giới
Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật” và bắt đầu niệm Phật là
được. [Đúng] 
j) Gặp trường hợp khẩn cấp, như người bệnh đang hấp
hối, hãy bắt ngay câu Thánh hiệu “A-Di-Đà Phật” để
trợ lực liền mới tốt. [Đúng] 
k) Hộ niệm cần tụng thêm nhiều kinh và chú để cầu giải
nghiệp. [Sai]Nếu người bệnh còn có ý niệm cầu giải
nghiệp, cầu hết bệnh thì sẽ mất vãng sanh. [Đúng] 
l) Hộ niệm rất cần tụng thêm nhiều kinh và chú của Phật
mới được vãng sanh. [Sai] 
m) Cần tránh xen tạp. Hộ niệm vãng sanh không cần tụng
kinh, chú. Chỉ niệm “A-Di-Đà Phật” trợ niệm là đầy
đủ và tốt nhất. [Đúng]  
 

26. Những điều xen tạp bất cẩn!
a) Được phép bấm huyệt trên thân người chết để giúp họ
vãng sanh. [Sai]
b) Đụng chạm vào thân xác quá sớm là điều tối kỵ, làm
cho người chết đau đớn sanh tâm sân nộ mà bị đọa
lạc. [Đúng]
c) Pháp hộ niệm vãng sanh của Tịnh-Độ tông tuyệt đối
không cho phép bấm huyệt vào thân xác người chết.
[Đúng]
d) T/P BHN có thể dùng năng lực của mình đẩy hơi nóng
lên cao giúp thần thức được chuyển hóa tốt hơn. [Sai] 
e) Cả BHN hợp lại cùng nhau dồn hết năng lực mới đẩy
được hơi ấm từ dưới chuyển lên cao hầu giúp sự
chuyển hóa tốt. [Sai] 
f) Dùng năng lực hoặc khí công đẩy hơi nóng lên hoàn
toàn không đúng với pháp hộ niệm vãng sanh. [Đúng] 
g) Những điều kinh Phật không nói đến, chư Tổ không
cho phép thì ta không được quyền áp dụng mới đúng
chánh pháp. [Đúng] 
h) Có thể dùng pháp “Tam Thời Hệ Niệm” để hộ niệm.
[Sai] 
i) Pháp “Tam Thời Hệ Niệm” có thể dùng để siêu độ
vong nhân chứ không thể dùng để hộ niệm. [Đúng] 
j) Chuyên niệm Phật không đủ mạnh, cần nhờ đến các
pháp khác hỗ trợ mới được vãng sanh. [Sai] 
k) Nhất tâm niệm danh hiệu A-Di-Đà Phật tiễn người
vãng sanh là chánh pháp, không cần vay mượn bất cứ
một pháp nào khác. [Đúng] 
l) Nếu người bệnh không muốn vãng sanh thì người hộ
niệm khôn khéo uyển chuyển khai thị khuyên họ niệm
Phật sẽ được hết bệnh. [Sai] 
m) Nếu người bệnh không muốn vãng sanh thì tốt nhất
người hộ niệm đình chỉ việc hộ niệm. [Đúng]  
n) Mỗi lần hộ niệm cần phải lập đàn cúng cô hồn. [Sai]  
 

27. Vấn đề dị đoan mê tín – Tập tục sai lầm:
a) Thế gian xưa nay có lệ chết xong thì tắm rửa liền,
nhanh chóng thay y phục... Ta theo lệ đó mà làm là 
được. [Sai]
b) Nhét gạo vào miệng, đặt tiền vào tay... để người chết
khỏi bị đói khát. [Sai]
c) Chôn cất xong sau 3 ngày cần phải làm lễ “Mở Mả” để
cho linh hồn người chết thoát ra đi đầu thai. [Sai]
d) Bắt con gà cột tại ngôi mộ để thế thân cho người chết,
thì người chết mới được thoát nạn. [Sai]
e) Thế gian có nhiều tập tục sai lầm, người tu hành
chánh pháp của Phật không được làm theo. [Đúng]
f) Người chết vào ngày “Trùng” linh hồn họ sẽ về bắt
con cháu chết theo. [Sai]
g)  Người có tâm bất chánh thường đem những chuyện dị
đoan mê tín ra hăm dọa để lường gạt đại chúng.
[Đúng]
h) Chọn ngày giờ chôn cất cẩn thận thì người chết mới
được siêu sanh. [Sai]
i) Tu hành niệm Phật cầu vãng sanh mới có thể được
siêu sanh, còn chuyện coi ngày giờ chỉ là tập tục của
thế gian. [Đúng]
j) Cha mẹ chết con cháu phải giết súc vật thết đãi thì vừa
trả được chữ hiếu vừa trả trọn chuyện nhơn nghĩa thế
gian. [Sai]
k) Người giết hại sinh vật mang tội sát sanh, còn làm cho
người chết nghiệp càng thêm nặng. [Đúng] 
 

28. Vấn đề ma chướng! 
a) Người hộ niệm thường bị ma chướng phá hoại. [Sai] 
b) Người chân chính hộ niệm là người chí thành niệm
Phật sẽ được Phật lực gia trì, được Hộ Pháp bảo vệ,
nên không thể bị ma chướng. [Đúng] 
c) Người có ý niệm thượng mạn thì tu bất cứ pháp môn
nào cũng dễ bị ma chướng quấy nhiễu. [Đúng] 
d) Người tu hành mà ham thích thần thông, muốn có
những năng lực đặc biệt, v.v... thì rất dễ bị ma chướng
ám hại là chuyện thường tình. [Đúng] 
e) Khởi tâm tham cầu chứng đắc, rất dễ bị oan gia trái
chủ nương theo tâm vọng đó mà cài bẫy để hãm hại.
[Đúng] 
f) Nạn ma chướng hầu hết đều từ cái tâm vọng động mà
chiêu cảm lấy. [Đúng] 
g) Người hộ niệm nên cầu các vị Thần Linh nhập thân để
khai thị. [Sai] 
h) Người liên hệ bất cẩn với chúng sanh vô hình, hoặc
lạm dụng Quỷ Thần một cách bất chánh thường cuối
cùng có hậu quả không tốt. [Đúng] 
i) Điều giải oán thân trái chủ mà tâm tánh thượng mạn,
xử sự bất công, ứng dụng pháp tà, v.v... thì khó tránh
khỏi oán nạn về sau. [Đúng] 
j) Văn minh khoa học càng tiến bộ, căn tánh con người
càng cao, trí huệ càng dễ dàng khai mở. [Sai] 
k) Văn minh khoa học càng tiến bộ, kiến thức thế gian
càng mạnh, thì hướng giải thoát tâm linh càng bị đóng
kín. [Đúng] 
l) Kỹ thuật vật chất càng mạnh, thiện căn càng yếu, con 
người càng khó tin vào Phật pháp. [Đúng]
m) Thời mạt pháp, càng về sau chánh pháp càng yếu,
nghiệp chướng càng nặng, chúng sanh càng dễ bị đọa
lạc. [Đúng]
n) Thời mạt pháp, càng về sau căn tánh càng yếu, vọng
tưởng càng nhiều, ma chướng càng nặng. [Đúng]
o) Tu hành trong thời mạt pháp mà thấy mình dễ dàng
chứng đắc, thì coi chừng bị tẩu hỏa nhập ma. [Đúng]
p) Tu hành mà tự thấy mình có năng lực đặc biệt hơn
người, thì coi chừng chỉ là vọng tưởng. [Đúng]
q) Người chơn tu dù có chứng đắc cũng không bao giờ
khoe ra. [Đúng] 
r) Người tự khoe rằng mình đã chứng đắc thì không thể
là thực chứng được. [Đúng] 
 

29. Muốn tránh ma chướng, người tu hành cần phải
làm gì? 

a) Cần tu luyện những pháp thuật cao cường để trị ma
chướng. [Sai] 
b) Phải tự thấy mình còn là phàm phu, phải giữ tâm hiền
hòa, khiêm cung, thành tâm niệm Phật mới an toàn.
[Đúng] 
c) Thấy điều gì lạ lạ không được hiếu kỳ, chớ vội chạy
theo thì mới an toàn. [Đúng] 
d) Không được đam mê thần thông, đừng vọng cầu chứng
đắc, đừng ham thích những thứ công năng đặc dị thì
mới an toàn. [Đúng] 
e) Người hộ niệm không được tự cho mình có năng lực
đặc biệt thì sẽ an toàn. [Đúng] 
f) Không phụng sự “Quỉ Thần Đạo”, không dùng bùa
ngải, đồng bóng... thì tránh rất nhiều ma chướng.
[Đúng] 
 

30. Sự tương quan giữa Chánh Pháp, Tượng Pháp,
Mạt Pháp?  

a) Chánh pháp là pháp Phật được ứng dụng triệt để,
tượng pháp là chánh pháp bắt đầu có sự lai tạp, mạt
pháp là chánh pháp bị lai tạp quá nhiều. [Đúng] 
b) Thời ký chánh pháp là 1.000 năm sau khi Phật nhập
diệt, tượng pháp là 1.000 năm thứ hai, mạt pháp là sau
2.000 năm. Hiện nay đã lún sâu hơn 500 năm vào thời
kỳ mạt pháp. [Đúng] 
c) Phật dạy, chánh pháp tu hành thành tựu rất dễ, tượng
pháp có thể tu Thiền định, mạt pháp chỉ còn Niệm Phật
cầu vãng sanh mới có thể thành tựu. [Đúng] 
 

31. Pháp hộ niệm có thể bị mạt pháp không? 
a) Dễ dàng bị mạt pháp nếu người hộ niệm tự ý thêm bớt
theo ý cá nhân. [Đúng]
b) Dễ dàng bị mạt pháp nếu pháp hộ niệm không được
bảo vệ đúng mức. [Đúng]
c) Dễ dàng bị mạt pháp nếu các BHN không được đào
luyện kỹ. [Đúng]
d) Cần khuyến cáo các BHN khắp nơi phải y giáo phụng
hành để thực hiện như lý như pháp, gìn giữ pháp hộ 
niệm đúng chánh pháp. [Đúng] 
 

32. Vì sao pháp hộ niệm vãng sanh trở thành “Đại Cứu
Tinh” cho con người trong thời mạt pháp này?
 
a) Vì được hộ niệm mà nhiều người đã thoát ly được vòng
sanh tử đọa lạc, vãng sanh TPCL thành đạo. Hiện
tượng này đã được chứng minh rất cụ thể. [Đúng] 
b) Vì người nào được hộ niệm thì cũng được vãng sanh,
thật bất khả tư nghì. [Sai] 
c) Vì có pháp hộ niệm rồi, thì chúng ta không cần tu hành
nữa cũng được vãng sanh. [Sai] 
d) Biết pháp hộ niệm thì con người tránh được rất nhiều
sự sai lầm gây đọa lạc cho nhau. [Đúng] 
e) Có pháp hộ niệm rồi thì Phật tử tu hành có thể giải đãi
một chút cũng được. [Sai] 
f) Người biết pháp hộ niệm rồi thì tu hành tinh tấn hơn,
vững vàng hơn, có chủ định rõ ràng hơn. [Đúng] 
g) Biết pháp hộ niệm thì biết cách tu tập cụ thể, thiết
thực, nhờ đó dễ được thành tựu. [Đúng] 
h) Không biết pháp hộ niệm thường vướng phải nhiều sơ
suất, tự mình đi vào đường cùng khổ nạn. [Đúng] 
i) Biết pháp hộ niệm thì tự biết hóa gỡ trước những
vướng mắc, khi ra đi dễ được thoát nạn. [Đúng] 
j) Biết pháp hộ niệm thì lúc lâm chung tránh được rất
nhiều cạm bẫy nguy hại đang bủa vây chung quanh. 
[Đúng]
k) Biết pháp hộ niệm thì biết rõ cách an toàn đi thẳng về 
TPCL thành đạo. [Đúng]
l) Biết pháp hộ niệm thì biết cách giúp cho người khác
được vãng sanh. [Đúng]
m) Thực hiện pháp hộ niệm rồi ta mới thấy rõ sự vãng
sanh về TPCL là một sự thực rất cụ thể. [Đúng]
n) Biết pháp hộ niệm mới thấy định luật nhân-quả của
nhà Phật vừa tế vi vừa cụ thể. [Đúng]
o) Biết pháp hộ niệm rồi có thể thay đổi được định luật
nhân-quả. [Sai]
p) Biết pháp hộ niệm rồi, mỗi người có thể chủ động thực
hiện định luật nhân-quả một cách chính xác để vãng
sanh thành đạo. [Đúng] 
 

33. Vấn đề không tin tưởng vào sự vãng sanh TPCL?
a) Phật dạy đây là pháp rất khó tin, nên gặp người không
tin là chuyện hết sức bình thường. [Đúng]
b) Người không tin do thiện căn còn quá yếu, cần phải tu
tích thêm thiện căn nữa mới được. [Đúng]
c) Người có nghiệp chướng quá nặng ngăn che niềm tin,
làm mất cơ hội giải thoát. [Đúng]
d) Người chưa có duyên lành thấy được người vãng sanh
nên chưa khởi phát được niềm tin. [Đúng] 
 

34. Muốn được vãng sanh, chúng ta cần làm gì?
a) Tự mình phải giữ vững Tín-Nguyện-Hạnh không được
thoái tâm. [Đúng]
b) Nghiên cứu thật kỹ pháp hộ niệm để ứng dụng cho
mình cho người. [Đúng] 
c) Phổ biến, giao lưu pháp hộ niệm rộng khắp để cứu
người vãng sanh. [Đúng] 
d) Phát tâm hộ niệm cho người có duyên. [Đúng]
e) Hướng dẫn người thân bạn bè nắm vững pháp hộ
niệm, sẽ được lợi người lợi ta. [Đúng] 


Chương 8:

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

Tu hành chỉ chú trọng về lý đạo, xem nhẹ sự thực hành
cụ thể thì khó thành tựu được gì mà lại dễ sinh ra vọng
tưởng. Ngược lại, thấy người ta tu sao mình tu vậy, không
hiểu lý đạo thì đường tu hành mơ hồ dễ biến thành tà đạo, dị
đoan mê tín. Học Phật phải y cứ vào kinh Phật nhưng phải
biết tuyển chọn pháp môn thích hợp với căn tánh thì mới có
thể thành tựu đạo quả trong một đời. 



1. Phật dạy, thời mạt pháp việc tu hành rất khó,
chúng sanh có tu nhưng được thành tựu thì quá
hiếm hoi, tại sao?

a) Vì chánh pháp bị xen tạp quá nhiều đưa đến tình trạng
tà chánh khó phân, người chân chánh tu hành nhưng
lại không gặp được chánh pháp để tu. [Đúng]
b) Vì nghiệp chướng quá nặng, dù tu hành đúng chánh
pháp cũng khó vượt qua ách nạn của nghiệp chướng,
nên sau cùng phải theo nghiệp thọ nạn. [Đúng]
c) Vì chúng sanh hầu hết thuộc hàng hạ căn, tâm ý mê
mờ, khó có thể khai mở trí huệ để tự lực tu chứng.
[Đúng]
d) Phật dạy thời mạt pháp niệm Phật mới có thể thành
tựu, nhưng chính ta dù có niệm Phật thì đến lúc lâm 
chung cũng không phải dễ dàng tự giữ được chánh
niệm để vãng sanh. [Đúng] 
e) Hàng hạ căn khi lâm chung nghiệp chướng báo hại,
bệnh khổ hành hạ, gia sự rối ren... vì vướng mắc đủ
điều nên không dễ được vãng sanh. [Đúng] 
f) Oán thân trái chủ quá nhiều, cạm bẫy giăng giăng, vì
không rõ ách nạn này mà hầu hết người tu hành sau
cùng vẫn bị vướng nạn. [Đúng] 
g) Bình thời lý luận cao xa, tới lúc lâm chung tất cả đều
biến thành mây khói, các căn tán hoại, thần thức điên
đảo, tâm trí mê loạn đành theo nghiệp thọ nạn. [Đúng] 
h) Chính vì thời mạt pháp tu hành rất khó thành tựu, nên
pháp hộ niệm thực sự vô cùng khẩn yếu. Thiếu hộ niệm
thì sự thành tựu thật sự sẽ rất hiếm hoi. [Đúng] 
 

2. Sự quan trọng của pháp hộ niệm vãng sanh:
a) Hướng dẫn sự hành trì pháp môn Niệm Phật rất cụ
thể, thực tế và chính xác. [Đúng]
b) Rất khế hợp căn tánh của đa số người học Phật trong
thời mạt pháp này. [Đúng]
c) Kịp thời hóa giải nhiều cạm bẫy, giúp người lâm
chung vượt qua nghiệp chướng, theo nguyện mà vãng
sanh TPCL. [Đúng] 
 

3. Sự thành tựu của pháp hộ niệm vãng sanh:
a) Người nào được hộ niệm thì chắc chắn sẽ được vãng
sanh. [Sai]
b) Không hộ niệm thì chắc chắn không được vãng sanh. 
[Sai]
c) Nhiều trường hợp được hộ niệm đã giúp người ra đi để
lại thoại tướng tốt đẹp bất khả tư nghì, nhiều hiện
tượng vãng sanh rất vi diệu. [Đúng]
d) Người học đạo xưa nay vẫn có rất nhiều, nhưng vì
thiếu sự hộ niệm mà hiếm khi thấy được hiện tượng
vãng sanh. [Đúng]
e) Vãng sanh là điều rất bình thường. Người chân chánh
tu hành theo Phật Giáo đều được vãng sanh. [Sai] 
 

4. Vấn đề chung của việc học Phật trong thời này:
a) Tất cả người học Phật ngày nay đều thực hành rất đúng
với chánh pháp. [Sai]
b) Có nơi thực hành đúng chánh pháp, vẫn có nhiều nơi
vướng phải nhiều điều sai lạc trong việc tu hành.
[Đúng]
c) Đại chúng học Phật khắp nơi đều được hướng dẫn tu
hành rất đúng chánh pháp. [Sai]
d) Nhiều nơi giảng giải đúng theo chánh pháp của Phật,
nhiều nơi chỉ làm theo tập tục thế gian, nhiều nơi
hướng dẫn sai pháp Phật. [Đúng]
e) Nhiều người học Phật ngày nay tâm ý mông lung vô
định, không hiểu mục đích chính của sự tu hành là gì.
[Đúng]
f) Trong thời này tu hành đạt được sự thành tựu quá
hiếm hoi, khiến cho mục đích giải thoát của Phật Giáo
trở thành mờ nhạt. [Đúng]  
g) Phật pháp quá vi diệu, nhưng người tu hành còn nhiều
sơ suất nên sự thành tựu trở nên hiếm hoi. [Đúng] 
h) Thời này người tu hành được thành tựu quá hiếm hoi!
Khi ứng dụng pháp hộ niệm mới thấy nhiều hiện tượng
vãng sanh vi diệu. Thật sự quí hóa vô cùng. [Đúng] 
i) Nhiều người định nghĩa rằng làm việc thiện lành chính
là tu hành. [Sai] 
j) Làm việc thiện chỉ là điều căn bản chứ không phải là
mục đích tối hậu của người tu học Phật. [Đúng] 
k) Chỉ làm thiện lành là hoạt động của một hội đoàn từ
thiện xã hội, thuộc về pháp thế gian chứ không phải là
pháp tu xuất thế gian. [Đúng] 
l) Nếu không được hướng dẫn pháp tu khế hợp căn tánh,
thì đại chúng dễ sanh vọng tưởng, rất dễ lạc đường.
[Đúng] 
m) Pháp hộ niệm thực sự khế hợp với căn cơ chúng sanh
trong thời này, nhờ thế đã giúp rất nhiều người được
thành tựu bất khả tư nghì. [Đúng] 
 

5. Tu hành cần phải “Khế Lý Khế Cơ”, có nghĩa là gì? 
a) Khế Lý là hợp với Lý đạo, tức là tu đúng theo pháp
Phật, không sai với lời Phật dạy. [Đúng]
b) Khế Cơ là hợp với Sự đạo, tức là tuyển trạch các pháp
môn tu tập thích hợp với căn cơ của mình mới có thể
thành tựu. [Đúng]
c) Nếu chỉ căn cứ vào kinh mà quên vấn đề khế hợp căn
cơ, thì rất dễ đi đến trạng huống vọng tưởng, không 
thể được thành tựu. [Đúng]
d) Pháp của Phật đều là chánh pháp và bình đẳng, ta
không được quyền phân biệt hay chọn lựa. [Sai]
e) Khế Lý là tu đúng theo pháp của Phật, Khế Cơ là sự
thực hành hợp với trình độ hoặc khả năng của chính
mình. [Đúng]
f) Những người thích chạy theo lý đạo xa vời, không để ý
đến vấn đề phù hợp với căn cơ của mình sau cùng đều
bị thất bại. [Đúng]
g) Tất cả các pháp đã được nói trong kinh Phật là khế lý,
là chánh pháp. [Đúng]
h) Tất cả các pháp đã được nói trong kinh Phật đều là
chánh pháp thì ta thực hành pháp nào cũng dễ dàng
được thành tựu. [Sai]
i) Các pháp Phật dạy trong kinh không sai với lý đạo,
nhưng nếu căn cơ không thích hợp mà ứng dụng vào
thì có thể sai. [Đúng] 
j) Sự hành trì phải cụ thể, ứng dụng pháp Phật phù hợp
với căn tánh của chính ta thì mới được thành tựu.
[Đúng] 
k) Phật để lại 84 ngàn pháp môn, pháp nào cũng vi diệu
cả. [Đúng]
l) Phật để lại 84 ngàn pháp môn, pháp nào cũng vi diệu
và đều thích hợp với tất cả mọi người. [Sai]
m) Phật để lại 84 ngàn pháp môn, pháp nào cũng vi diệu,
nhưng mỗi pháp đều có đối tượng ứng trị riêng.
[Đúng] 
n) Tất cả pháp môn tu của Phật dạy đều vi diệu, bình
đẳng và đều nhằm để cứu độ chúng sanh. [Đúng] 
o) Tất cả pháp môn của Phật đều vi diệu, pháp môn nào
cũng có thể giúp chúng ta dễ dàng thành tựu. [Sai] 
p) Trong nhiều kinh Phật dạy phải tuyển trạch pháp môn
tu cho hợp căn tánh mới thành tựu được. [Đúng] 
q) Phật là Tâm, Tâm là Phật. Người tu hành mà sáng
Tâm thấy Tánh, thấy Tánh thì thành Phật. [Đúng]  
r) Phật là Tâm, Tâm là Phật, hàng phàm phu cũng có tâm
Phật, vậy thì phàm phu tự lực tu chứng cũng dễ dàng
như chư Bồ-Tát. [Sai] 
s) Phật là Tâm, Tâm là Phật, nhưng hàng phàm phu
không thể dễ dàng tự tu chứng đắc cảnh giới mong
muốn được. [Đúng] 
t) Phật dạy: “Duy Tâm Tịnh Độ”, thì Ta-Bà này cũng là
cõi Tịnh-Độ. [Sai] 
u) Chỉ khi nào thành Phật rồi, luôn luôn sống trong cảnh
giới của Chơn Tâm Tịch Tịnh thì ở đâu cũng là TịnhĐộ.
[Đúng]
v) Hàng phàm phu còn kẹt lại đây thì chắc chắn còn chịu
cảnh uế độ, bị nạn sanh tử luân hồi, khổ đau vô lượng
kiếp. [Đúng] 
w) Chư Phật Bồ-Tát thì thấy phiền não là bồ-đề, sanh tử
là niết-bàn. [Đúng] 
x) Hàng phàm phu thì phiền não là phiền não, sanh tử là
sanh tử. Chớ nên vọng tưởng mà càng thêm lầm lạc.
[Đúng] 
y) Hàng phàm phu không được thượng mạn cho rằng
mình đã khai mở trí huệ thì đường tu hành mới an
toàn. [Đúng] 
z) Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy rằng, thời mạt pháp
người nào tự xưng đã chứng đắc nhất định không thể
thoát khỏi bàn tay của năm thứ “Ấm Ma”. [Đúng] 
aa) Phải biết mình còn là phàm phu, nghiệp chướng sâu
nặng nên cẩn phải khiêm cung tu hành mới có cơ hội
giải thoát. [Đúng]  
bb) Kinh A-Di-Đà Phật dạy niệm Phật từ một ngày đến
bảy ngày nhất tâm bất loạn, tự tại vãng sanh là đúng
lý đạo, chánh niệm vãng sanh. [Đúng]  
cc) Ứng dụng kinh A-Di-Đà, thì người nào niệm Phật từ
một ngày đến bảy ngày cũng được nhất tâm bất loạn,
chánh niệm vãng sanh. [Sai]  
dd) Khế cơ tức là nói về sự tu tập cụ thể, thì hộ niệm thật
sự rất hợp căn cơ của chúng sanh trong thời mạt pháp
này. [Đúng] 
ee) Hàng phàm phu tội chướng quá nặng, không thể tự giữ
chánh niệm, nên rất cần người hộ niệm trợ duyên mới
có thể được vãng sanh. [Đúng] 
ff) Chí thành chí kính nhiếp tâm niệm Phật cầu Phật
thương xót nhiếp thọ là hợp căn cơ chúng sanh trong
thời mạt pháp này. [Đúng] 
gg) Hướng dẫn đại chúng niệm Phật mà không chú trọng
đến pháp hộ niệm thì sự hướng dẫn có thể Khế Lý,
nhưng thiếu phần Khế Cơ. [Đúng] 
hh) Nhất tâm bất loạn là Lý của pháp niệm Phật, còn thực
hiện pháp Hộ Niệm là Sự tu căn bản, cụ thể giúp
người niệm Phật được vãng sanh vững vàng. [Đúng] 
 

6. Vấn đề chư Phật Bồ-Tát thị hiện:
a) Chư Phật Bồ-Tát thị hiện trong thời này thường lộ ra
danh phận để chiêu nạp đại chúng tu hành theo chánh
pháp. [Sai] 
b) Lợi dụng sự mê mờ của đại chúng, nhiều người đã lạm
xưng Phật Bồ-Tát để lôi kéo tín đồ, dùng pháp bất
chánh để lường gạt chúng sanh. [Đúng]
c) Thời này người nào tự xưng là Phật Bồ-Tát, đã chứng
đắc rồi, thì ta phải cẩn thận, chớ vội vàng tin tưởng.
[Đúng] 
d) Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng. Vì năng lực
Phật yếu hơn ma nên Phật không dám lộ thân phận.
[Sai]
e) Chư Phật Bồ-Tát vì thương xót chúng sanh trong thời
mạt pháp tâm cơ yếu đuối mê muội nên không bao giờ
để lộ danh phận. [Đúng]
f) Nếu Phật Bồ-Tát lộ ra danh phận, thì hàng tà đạo ùn
ùn tự xưng là Phật Bồ-Tát, đại chúng không cách nào
phân biệt được chánh tà. [Đúng]
g) Nếu Phật dùng thần thông thì hàng ngoại đạo được
dịp thi thố pháp thuật, xã hội sẽ hỗn loạn trong vòng
đấu tranh tạo nghiệp. [Đúng]
h) Nếu xã hội chìm trong cảnh hỏa mù của pháp thuật, thì 
chúng sanh mịt mù hỗn loạn hoặc ham thích những sự
hão huyền mà bị đoạn mất phần giải thoát. [Đúng] 
i) Phật Bồ-Tát không chịu đề lộ danh phận. Vậy nếu ai
xưng danh này nọ thì tự họ để lộ tẩy!... [Đúng] 
j) Hàng ngoại đạo không đủ năng lực thuyết lên chánh
pháp nên thường dựng lên những trò hão huyền để
lường gạt chúng sanh. [Đúng] 
k) Phật Bồ-Tát có thị hiện để cứu độ chúng sanh, nhưng
khi lộ tông tích thì các Ngài thị tịch ngay. [Đúng] 
l) Người hành tà đạo, nếu không chịu hồi đầu sám hối thì
một ngày nào đó chắc chắn chư Phật Bồ-Tát sẽ ra tay
trừng trị thích đáng. [Sai] 
m) Phật Bồ-Tát chỉ quyết lòng nói lên chánh pháp, cảnh
tỉnh chúng sanh theo đường chánh đạo để giải thoát,
chứ không bao giờ đấu tranh với ngoại đạo. [Đúng] 
n) Vấn đề nhân quả tự mỗi người phải chịu trách nhiệm
lấy, nếu tu hành sai trái thì tự rước lấy khổ nạn vậy.
[Đúng] 
o) Bày vẽ những pháp tà vạy, đánh lạc hướng giải thoát
của chúng sanh thì tự chuốc họa vào thân. Đó là vấn
đề nhân quả, tự làm tự chịu. [Đúng] 
 

7. Vấn đề: “Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”:
a) Giảng kinh thuyết đạo không được rời xa kinh Phật
mới đúng chánh pháp. [Đúng]
b) Giảng kinh thuyết đạo mà tự mình nghĩ sao nói vậy, thì
chẳng khác gì như ma nói. [Đúng] 
c) Người tu học Phật bắt buộc phải nghiên cứu tất cả mọi
kinh điển của Phật mới được. [Sai] 
d) Tu hành pháp môn nào phải nghiên cứu tường tận
pháp môn đó và làm đúng tông chỉ của pháp môn,
không được tự ý thêm bớt thì đúng chánh pháp.
[Đúng] 
e) Phải tu tập tất cả mọi pháp môn, không được sót một
pháp môn nào, thì mới thực hiện đúng nghĩa câu:
“Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. [Sai] 
f) Tuyển chọn một pháp môn thích ứng với căn cơ của
mình và huân tu lâu dài để thâm nhập vào kinh tạng là
đúng chánh pháp. [Đúng] 
g) Kinh Đại Tập Phật dạy rằng, thời Chánh Pháp gìn giữ
Giới Luật có thể thành tựu, thời Tượng Pháp tọa Thiền
có thể thành tựu, thời Mạt Pháp chỉ có niệm Phật mới
có thể thành tựu. Vậy chúng ta chuyên lòng niệm Phật
cầu vãng sanh là tu đúng lời Phật dạy. [Đúng] 
h) Học Phật mà tự mình lập ra học thuyết riêng rồi đi
truyền bá cho đại chúng, thì chẳng khác gì như ma
nói. [Đúng] 
i) Nhiều người ưa lý luận xa vời, thích dựa vào kiến giải
thế gian mà luận giảng lời Phật, thì chẳng khác gì như
ma nói. [Đúng] 
j) Người nào chỉ dựa vào khoa học hạn hẹp vô thường
mà lý giải lời Phật, thì chẳng khác gì như ma nói.
[Đúng] 
k) Phật dạy có thế giới TPCL, người học Phật mà nói 
rằng không có thế giới TPCL, thì chẳng khác gì như
ma nói. [Đúng]  
l) Dùng tư tưởng cá nhân mà bài bác kinh Phật, thì
chẳng khác gì như ma nói. [Đúng] 
m) Chuyên tu một pháp môn thích hợp căn cơ của mình,
là đúng chánh pháp. [Đúng] 
n) Chuyên tu tập một pháp môn thích hợp căn cơ của
mình, có quyền coi thường các pháp môn khác. [Sai] 
o) Phật dạy: “Tự Tánh Di-Đà” thì A-Di-Đà Phật chính
là Chơn Tâm của ta. [Đúng] 
p) Phật dạy: “Tự Tánh Di-Đà” thì A-Di-Đà Phật chính
là Chơn Tâm của ta chứ không có Phật A-Di-Đà trên
cõi TPCL. [Sai] (chấp Tự, bỏ Tha)  
q) Phật dạy: “Duy Tâm Tịnh Độ”, thì tâm tịnh cõi nước
sẽ tịnh, nghĩa là cõi Tịnh-Độ thể hiện ngay trong tâm.
[Đúng] 
r) Phật dạy: “Duy Tâm Tịnh Độ”, thì cõi Tịnh-Độ ở tại
tâm này, chứ không có cõi Tây Phương Tịnh Độ nào
cả. [Sai] (chấp Lý, bỏ Sự) 
s) Khi hộ niệm muốn tránh nạn: “Ly kinh một chữ thành
lời của ma” thì phải y giáo phụng hành, không được tự
ý thêm bớt vào pháp hộ niệm vãng sanh. [Đúng]
  

8. Vấn đề: “Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan”:
a) Câu này có nghĩa là, giảng kinh thuyết đạo mà theo
đúng kinh điển thì oan cho ba đời chư Phật. [Sai] 
b) Giảng kinh mà chỉ dựa vào lý đạo, không để ý đến căn 
tánh của đại chúng làm cho đại chúng hoang mang,
mơ hồ, rối loạn... nên oan cho ba đời chư Phật.
[Đúng] 
c) Ngài Ấn Quang nói rằng, thuyết kinh giảng đạo mà
không hợp với căn tánh của đại chúng thì không lợi
lạc gì, mà còn khiến họ thêm vọng tưởng... đây chính
là ý nghĩa câu: “Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật
oan”. [Đúng] 
d) Có kinh Phật giảng cho hàng Bồ-Tát tu hành, ta đem
giảng dạy cho các bà cụ quê mùa tu tập... là oan cho
ba đời chư Phật. [Đúng] 
e) Đem những lý đạo cao siêu mà khuyến tấn hàng phàm
phu thực hiện là oan cho ba đời chư Phật. [Đúng] 
f) Mỗi pháp môn tu có mỗi cách hành trì riêng, đem cách
hành trì của pháp môn này mà áp dụng cho pháp môn
kia là oan cho ba đời chư Phật. [Đúng] 
g) Lấy tông chỉ của pháp tự lực mà ứng dụng cho pháp
nhị lực, hoặc ngược lại là oan cho ba đời chư Phật.
[Đúng] 
h) Khi hộ niệm muốn tránh nạn: “Y kinh giảng nghĩa
tam thế Phật oan” thì khai thị hướng dẫn người bệnh
phải cụ thể, đúng theo từng chướng nạn của cá nhân.
[Đúng] 
 

9. Thời mạt pháp tu hành muốn được an toàn, chúng
ta nên: 

a) Giữ hạnh khiêm cung, tự thấy mình còn nông cạn mới 
tốt. [Đúng]
b) Nên đóng cửa tự tu, xa lìa đồng tu hầu giữ tâm thanh
tịnh. [Sai]
c) Đừng nên khởi ý niệm là mình đã đạt được tam muội,
được chứng đắc... mới an toàn hơn. [Đúng]
d) Không được hiếu kỳ điều lạ, ham mê thần thông... mới
tránh nhiều ma nạn. [Đúng]
e) Cần kết hợp với nhau cùng tu tập hầu trợ giúp nhau
mới vững vàng. [Đúng]
f) Niệm Phật là pháp tu thích hợp trong thời này, nhưng
rất cần hộ niệm trợ duyên để được thuận lợi vãng
sanh. [Đúng] 
 

10. Pháp hộ niệm rất hợp căn cơ chúng sanh trong thời
này vì: 

a) Người nào được hộ niệm đều được vãng sanh TPCL.
[Sai] 
b) Người niệm Phật nhưng vì thiếu sự hộ niệm mà cuối
cùng hầu hết không thực hiện được mục đích vãng
sanh Cực-Lạc. [Đúng] 
c) Pháp hộ niệm hướng dẫn thực hiện pháp niệm Phật cụ
thể, rõ ràng, chính xác, rất dễ thực hành. [Đúng] 
d) Pháp hộ niệm giúp cho người bệnh thực hiện ba điểm
Tín-Nguyện-Hạnh một cách cụ thể nên có rất nhiều
người nhờ đó mà được vãng sanh. [Đúng] 
e) Chứng đắc “Nhất tâm bất loạn”, tự tại vãng sanh thì
khế lý, nhưng không hợp căn cơ với đại đa số chúng 
sanh trong thời này. [Đúng] 
f) Chúng sanh thời này nghiệp sâu, trí cạn, dù có tu hành
nhưng hầu hết bị lạc đường, vướng nạn... Không hộ
niệm khó có người được giải thoát. [Đúng]
g) Chúng sanh thời này nghiệp chướng sâu nặng, đầu óc
mê mờ, hãy khuyên giảng chung chung rồi từ từ họ sẽ
giác ngộ mà được giải thoát. [Sai]
h) Chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng, thì ứng dụng
pháp hộ niệm rất hợp và thực tế, tạo cho đại chúng
nhiều cơ duyên vãng sanh thành đạo. [Đúng]
i) Chúng sanh dù có nghiệp chướng sâu nặng, nhưng hễ
có tu hành thì trước sau gì cũng sẽ thành tựu. [Sai]
j) Người nghiệp nặng hãy ngày đêm quyết tâm niệm
Phật, nhờ hộ niệm lúc lâm chung Tín-Nguyện-Hạnh
vẫn đầy đủ, thì có thể được đới nghiệp vãng sanh.
[Đúng]
k) Người nghiệp chướng đã sâu nặng, mà tâm cứ lo nghĩ
về nghiệp chướng, thì Phật Bồ-Tát có xuống thế cũng
khó cứu được. [Đúng]
l) Phương pháp hộ niệm là khuyên người bệnh buông
tình chấp ra, giữ vững Tín-Nguyện-Hạnh để vãng
sanh. [Đúng]
m) Nhờ hộ niệm mà nhiều người đã vượt thoát được ách
nạn của nghiệp chướng, đới nghiệp vãng sanh TPCL.
[Đúng]
n) Dù nạn oán thân trái chủ rất khốc liệt, nhưng thành tâm
sám hối thì ai cũng dễ dàng tự hóa giải lấy. [Sai] 
o) Muốn hóa giải nạn oán thân trái chủ phải nhờ vào năng
lực của các BHN mới được. [Sai] 
p) Nhờ thực hành pháp hộ niệm mà nhiều người đã đạt
được những năng lực mạnh mẽ có thể chế phục oán
thân trái chủ. [Sai] 
q) Nạn oán thân trái chủ trong thời này rất khốc liệt,
người bệnh cần thành tâm sám hối và nhờ BHN điều
giải mà hầu hết đều được giải tỏa. [Đúng] 


Chương 9: 

NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý 

Người hộ niệm cần chú ý tránh sơ suất khi hộ niệm. 
Người bệnh cũng phải chú ý tránh sơ suất khi xả bỏ báo thân.
Mọi người nếu muốn hết báo thân này được vãng sanh TịnhĐộ
đều phải chú ý thực hành hộ niệm như lý như pháp.


1. Tín-Nguyện-Hạnh và Hộ Niệm: Cơ hội vãng sanh: 
a) Người niệm Phật nhiều năm chắc chắn sẽ được an
nhiên tự tại vãng sanh. Pháp hộ niệm chỉ cần thiết đối
với đại chúng kém học ít tu. [Sai]
b) Người tu học Phật thì nhiều nhưng vì không được hộ
niệm nên sau cùng gặp quá nhiều chướng ngại mà
luống qua một đời tu hành. [Đúng]
c) Pháp hộ niệm rất cần cho tất cả mọi người trong thời
mạt pháp này. [Đúng]
d) Người bình thời có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh thì khi
xả bỏ báo thân chắc chắn sẽ được vãng sanh. [Sai] 
e) Người nào khi lâm chung thực hiện chính xác tông chỉ
Tín-Nguyện-Hạnh thì chắc chắn sẽ được vãng sanh.
[Đúng]
f) Người có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh thì không cần đến
hộ niệm nữa. [Sai] 
g) Người niệm Phật có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, nhưng
phải ý thức rằng khi lâm chung có rất nhiều chướng
nạn, nên vẫn cần đến hộ niệm mới giữ được chánh
niệm để vãng sanh. [Đúng] 
h) Người niệm Phật lâu năm, có đủ Tín-Nguyện-Hạnh,
lúc lâm chung chỉ cần mời BHN tới hộ niệm thì chắc
chắn được vãng sanh. [Sai] 
i) Người niệm Phật lâu năm, có đủ Tín-Nguyện-Hạnh,
nhưng sau cùng vì sơ suất vi phạm quy luật hộ niệm
cũng đành mất phần vãng sanh. [Đúng] 
j) Người niệm Phật lâu năm, có đủ Tín-Nguyện-Hạnh,
nhưng sau cùng có thể vướng bẫy oán thân trái chủ mà
mất phần vãng sanh. [Đúng] 
k) Người niệm Phật lâu năm, có đủ Tín-Nguyện-Hạnh,
nhưng sau cùng bị nghiệp chướng hành hạ, quên mất
niệm Phật mà mất vãng sanh. [Đúng] 
l) Chính vì quá nhiều nguyên nhân làm mất vãng sanh,
nên việc hộ niệm rất quan trọng, cần nghiên cứu kỹ để
thực hành đúng pháp. [Đúng] 
m) Người thực hành pháp niệm Phật vẫn cần các pháp
khác trợ lực mới có thể vãng sanh được. [Sai] 
n) Sự hành trì đa dạng sẽ yếu phần chủ định, sau cùng
khó định được vào câu Phật hiệu nên mất vãng sanh.
[Đúng] 
o) Người phàm phu nghiệp chướng sâu nặng, nên dù có
niệm Phật cũng cần phải trì thêm nhiều chú để phá
nghiệp mới được vãng sanh. [Sai] 
p) Kinh Lăng-Nghiêm, Bồ-Tát Đại Thế Chí dạy: Thanh
tịnh niệm Phật liên tục, không cần vay mượn bất cứ
pháp gì khác, thì tâm tự khai mở. [Đúng] 
q) Kinh Vô-Lượng-Thọ, Phật dạy: Chuyên nhất niệm
Phật cầu sanh TPCL thì mới được vãng sanh. [Đúng] 
r) Người tu hành không có chủ định, gặp đâu tu đó, thì
sau cùng tâm trí thường rối bời, khó có thể vượt qua
ách nạn của nghiệp chướng. [Đúng] 
 

2. Những điều gia đình bệnh nhân cần chú ý: 
a) Hộ niệm là pháp tu, gia đình nên cùng khuyến tấn
nhau tinh tấn niệm Phật tu hành, chứ không thể ỷ lại
vào BHN mà được. [Đúng]
b) Phật dạy thời mạt pháp này chỉ có niệm Phật cầu vãng
sanh Tịnh-Độ mới có cơ hội thành tựu đạo quả. Hãy
chuyên nhất niệm Phật để đường tu rõ ràng, điểm về
cụ thể. [Đúng]
c) Chuyên nhất niệm Phật rồi thì hãy yên chí, khi lâm
chung mời một BHN đến hộ niệm thì chắc chắn được
vãng sanh. [Sai]
d) Chuyên nhất niệm Phật rồi, nhưng phải biết rõ quy
luật vãng sanh, được hộ niệm nữa mới vững vàng
được. [Đúng]
e) Hãy cẩn thận nhờ nhiều BHN đến cùng lo liệu mới an
toàn. [Sai]
f) Cần một BHN để họ theo dõi đầy đủ tiến trình và chủ
động sắp xếp việc hộ niệm mới tốt. [Đúng] 
g) Ngày đầu tiên gia đình cần tụ họp đông đủ để nghe
BHN phổ biến quy lệ hộ niệm, phải nghiêm chỉnh thực
hiện đầy đủ các điều quy định này thì sự hộ niệm mới
thực hiện tốt. [Đúng] 
h) Nếu thấy những quy định hộ niệm có mục nào không
thích hợp thì gia đình có quyền đề nghị bỏ qua. [Sai] 
i) Vì hoàn cảnh gia đình, nếu thấy những quy định hộ
niệm có mục nào quá khó thì nên nêu ra trước để BHN
tìm cách uyển chuyển thực hiện. [Đúng] 
j) Gia đình cần tin tưởng Phật Pháp, thành khẩn niệm
Phật hộ niệm cho người thân thì cơ hội vãng sanh mới
được thuận lợi. [Đúng] 
k) Nếu có một vài người không tin tưởng thì gia đình phải
cam kết rằng những người này không được vi phạm
quy tắc trợ niệm. [Đúng] 
l) Trong khi đang hộ niệm gia đình không được làm theo
tập tục của thế gian, hoặc tự ý xen tạp các hình thức
khác. [Đúng] 
m) Hộ niệm tại nhà rất tiện. Nếu bệnh tình không chữa trị
được nữa, cần sớm xuất viện để lo hộ niệm là tốt nhất.
[Đúng] 
n) Khuyến khích gia đình ăn chay, nhất là những ngày hộ
niệm để tạo phước hồi hướng cho người bệnh. [Đúng] 
o) Gia đình không ăn chay được thì có thể dùng “Tam
Tịnh Nhục”, nhưng phải kiêng cữ sát sanh kể cả:
muỗi, ruồi, kiến, gián, v.v... [Đúng] 
p) Tam Tịnh Nhục là món thịt dựa trên ba điều không: 
không nghe tiếng con vật kêu, không thấy con vật lúc
bị giết, không phải vì mình mà con vật bị giết. [Đúng] 
q) Tuyệt đối kiêng cữ ăn thứ Ngũ-Tân: Tỏi, hành, hẹ, nén,
kiệu, tỏi tây... [Đúng]  
r) Khuyến khích phóng sanh để hồi hướng công đức cho
người bệnh. [Đúng] 
s) Bắt buộc gia đình phải phóng sanh, không phóng sanh
thì không hộ niệm. [Sai] 
t) Gia đình không được nói lời bi quan, sầu muộn trước
mặt người bệnh. [Đúng] 
u) Cần thông báo bà con bạn bè quen thân thường xuyên
đến tâm sự, an ủi, vỗ về hầu giúp người bệnh giảm bớt
sự căng thăng. [Sai] 
v) Giảm chế tối đa vấn đề bà con, thân hữu trực tiếp
thăm hỏi người bệnh trong suốt thời gian hộ niệm vì
họ không nắm vững quy luật pháp hộ niệm nên dễ phá
tan ý nguyện vãng sanh của người bệnh. [Đúng] 
w) Khi thấy người thân sắp chết, gia đình than khóc để
trút nỗi bi thương và đây là vấn đề tình cảm thiêng
liêng không thể cấm được. [Sai] 
x) Gia đình nhất định không được than khóc khi người
thân lâm chung, người nào cầm lòng không nổi thì tốt
nhất phải cách ly trước. [Đúng] 
y) Nếu gia đình không chấp nhận điều lệ cấm khóc than,
thì BHN nên từ chối hộ niệm, vì có hộ niệm cũng
không được thành tựu. [Đúng] 
z) Nếu gia đình nào cố tình vi phạm quy tắc hộ niệm, thì 
BHN sẽ đình chỉ việc hộ niệm. [Đúng] 
 

3. Tại sao không được đụng chạm vào thân xác người
chết sớm? 

a) Khi vừa mới tắt hơi xong, tử khí rất xấu, không khí ô
nhiễm rất nặng... mọi người chớ nên đứng gần. [Sai] 
b) Người tắt hơi xong, nếu chưa được vãng sanh TPCL
thì thức A-lại-da (hay gọi là thần thức, linh hồn) vẫn
còn vướng trong thân xác, thời gian có thể lâu hay
mau tùy theo từng người. [Đúng] 
c) Linh hồn họ vẫn còn đó, nếu ai vội đụng chạm vào xác
thì rất dễ bị linh hồn họ nhập thân phá hoại. [Sai] 
d) Nếu đụng chạm bất cẩn vào thân xác khi thần thức
chưa ra khỏi, thì người chết sẽ đau đớn giống như
đang bị tra tấn. [Đúng] 
e) Người thế gian vì quá thương tiếc nên thường ôm,
nắm, lay động xác thân người chết, vô tình làm cho ra
đi dễ bị đọa lạc vào ba đường ác. [Đúng] 
f) Tắm rửa, thay y phục, trang điểm... quá sớm chẳng
khác gì tra tấn người chết làm cho họ phẫn nộ mà
chiêu cảm vào cảnh địa ngục [Đúng]  
g) Hãy thương hại người ra đi, đừng đụng vào xác thân ít
ra 8 tiếng đồng hồ, nếu giữ gìn được đến 12 tiếng thì
an toàn hơn. [Đúng]  
 

4. Về vấn đề chăm sóc người bệnh, gia đình cần chú ý:
a) Muốn vãng sanh Cực-Lạc thì lúc lâm chung người
bệnh phải tha thiết cầu vãng sanh, không được cầu hết 
bệnh. [Đúng]
b) Cầu hết bệnh thì không được vãng sanh, khuyên người
bệnh niệm Phật không được dùng thuốc để chữa bệnh.
[Sai]
c) Dùng thuốc trị bệnh giúp bệnh khổ bớt hành hạ, tinh
thần thoải mái hơn để niệm Phật tốt, không ảnh hưởng
đến pháp Hộ Niệm. [Đúng]
d) Trường hợp người bị bệnh quá lâu, nên khuyên người
bệnh giảm ăn bớt uống để được vãng sanh sớm. [Sai]
e) Thọ mạng đã có phần số, khuyên người bệnh nên ăn
uống đầy đủ để có sức khỏe tốt hầu được thoải mái và
sáng suốt niệm Phật. [Đúng]
f) Khi cơ thể không kết nạp thức ăn được nữa, thì châm
từng giọt nước nhỏ rất cần thiết giúp người bệnh tỉnh
táo để niệm Phật. [Đúng]
g) Bệnh tình không cứu chữa được nữa, mà quyết lòng
chạy chữa cầu may thì khó có thể vãng sanh. [Đúng]
h) Đến lúc lâm chung điều quan trọng là chính người
bệnh không được sợ chết, quyết lòng niệm Phật cầu
vãng sanh Tịnh-Độ thì mới được vãng sanh. [Đúng]
i) Dùng chất Morphine để giảm đau sẽ làm người bệnh
mê man bất tỉnh. Đây là trạng thái rất nguy hiểm khó
tránh khỏi ách nạn. Cần phải giảm thiểu chất
morphine. [Đúng]
j) Trường hợp người bệnh bị đau đớn quá mức cũng khó
niệm Phật được, có thể dùng một liều morphine nhỏ
cần thiết vừa đủ giảm bớt cơn đau vừa giữ cho người 
bệnh luôn luôn tỉnh táo thì mới hộ niệm được. [Đúng] 
k) Trong lúc này sự khuyến tấn và hợp tác chặt chẽ của
gia đình rất cần thiết để giúp cho người thân thành tựu
sự vãng sanh. [Đúng] 
 

5. Người bệnh cần  chú ý:
a) Người bệnh ở đây là chỉ cho chính những người niệm
Phật muốn khi mãn báo thân được vãng sanh về
TPCL. [Đúng]
b) Khi lâm chung không được sợ chết. Người sợ chết thì
nhất định không được vãng sanh. [Đúng]
c) Người sợ chết thì Phật không thương nên không tiếp
dẫn vãng sanh. [Sai]
d) Tất cả đều do tâm tạo. Người sợ chết thì còn lưu luyến
thế gian này, không thực tâm muốn về TPCL nên
không được vãng sanh. [Đúng]
e) Người sợ chết thì khi đối diện với cảnh lâm chung tâm
hồn sẽ bị điên đảo, hoảng sợ, mê man bất tỉnh... nhất
định phải theo nghiệp thọ nạn. [Đúng]
f) Tinh thần minh mẫn là điều kiện rất quan trọng để
vãng sanh. [Đúng]
g) Người thường nghĩ về bệnh hoạn, ngày ngày chú tâm
lo lắng về sức khỏe thì dễ được tỉnh táo vãng sanh.
[Sai]
h) “Vạn pháp duy tâm sở hiện”. Người sợ bệnh thì
không bệnh cũng có bệnh, bệnh nhẹ sẽ thành bệnh
nặng. [Đúng] 
i) Người quá lo lắng về bệnh hoạn, khi bệnh đến thì tinh
thần thường bất an, tâm hồn dễ điên đảo nên rất khó
vãng sanh. [Đúng] 
j) Không sợ bệnh thì khi bệnh đến ta an nhiên vui vẻ
chấp nhận, đây là yếu tố tự tại của người niệm Phật
cầu vãng sanh TPCL. [Đúng] 
k) Tự tại trước bệnh khổ không phải là không bị đau
bệnh, nhưng khi bị đau bệnh mà vui vẻ chấp nhận,
không quá lo sợ. [Đúng] 
l) Khi bệnh đến thì hãy hiểu rằng nhiều đời nhiều kiếp ta
tạo nghiệp rất nặng, nay nhờ niệm Phật mà chuyển
được nghiệp báo tam đồ thành nghiệp nhẹ để đi vãng
sanh. [Đúng] 
m) Phải lập nguyện kiên định một đời này quyết trả hết
nghiệp để vãng sanh TPCL. [Sai] 
n) Phàm phu nghiệp nặng, nhất định không thể diệt hết
nghiệp, nếu nguyện trả hết nghiệp thì tâm sẽ dính vào
nghiệp mà phải theo nghiệp thọ nạn. [Đúng] 
o) Cần nên nhớ, tiêu trừ cho sạch hết nghiệp chướng là
điều kiện của người tu các pháp tự tu tự chứng, còn
Tín-Nguyện-Hạnh đầy đủ là điều kiện của pháp niệm
Phật thuộc về nhị lực cầu vãng sanh TPCL. [Đúng]   
p) Niệm Phật là pháp theo nguyện lực mà vãng sanh về
TPCL, chứ không phải diệt nghiệp chứng đắc. [Đúng] 
q) Tha thiết nguyện vãng sanh là chánh nguyện của
người niệm Phật. Tín-Nguyện-Hạnh đầy đủ lúc lâm
chung sẽ được cảm ứng, A-Di-Đà Phật tiếp độ mà đới 
nghiệp vãng sanh. [Đúng]
r) Khi đối diện với cảnh lâm chung mà người bệnh còn
có tâm nguyện cầu hết bệnh thì phải mất phần vãng
sanh. [Đúng] 
s) Tín tâm kiên định, quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh
là điều rất quan trọng để vãng sanh Tịnh-Độ. [Đúng] 
 

6. Vấn đề cảnh giới, khi lâm chung cần nhắc nhở
người bệnh: 

a) Người niệm Phật thì chắc chắn sẽ có nhiều cảnh giới
tốt như quang minh sáng ngời, thiên nhạc réo rắc, v.v...
đều là chuyện tốt. [Sai] 
b) Thấy cảnh giới lạ, tốt hoặc xấu, hiền hoặc dữ hiện
ra… Kệ chúng! Đừng sợ, đừng mừng, đừng để ý tới.
Hãy cứ nhiếp tâm niệm A-Di-Đà Phật cầu vãng sanh
là được. [Đúng] 
c) Thấy được chư Phật Bồ-Tát ứng hiện khai thị, điểm
đạo, tiếp dẫn... đều là cảm ứng tốt. [Sai] 
d) Thấy Phật, Bồ-Tát, chư Thiên, Quỷ Thần nào khác
hiện ra... Kệ họ! Đừng sợ, đừng mừng, đừng theo họ.
Hãy cứ nhiếp tâm niệm A-Di-Đà Phật cầu vãng sanh
là được. [Đúng] 
e) Thân bằng quyến thuộc được sanh vào các cõi lành
thường hiện về để tiếp dẫn người bệnh theo họ cùng an
hưởng phước lạc. [Sai] 
f) Thấy thân bằng quyến thuộc đã chết hiện ra… Kệ họ!
Đừng sợ, đừng mừng, đừng theo họ. Hãy cứ nhiếp tâm 
niệm A-Di-Đà Phật cầu vãng sanh là được. [Đúng]
g) Tất cả cảnh giới đều là giả huyễn. Hãy định tâm lại,
nhìn ảnh tượng A-Di-Đà Phật do BHN treo trước mặt
để niệm Phật, khi A-Di-Đà Phật hiện ra giống như
hình đó thì theo Ngài đi vãng sanh. Nhất định an toàn,
không bị lạc. [Đúng] 
 

7. Những điều tham chấp, vướng mắc làm mất vãng
sanh: 

a) Người thế gian nghĩ rằng cha mẹ chết con cháu phải
khóc than cho nhiều thì người ra đi sẽ đỡ buồn tủi.
[Sai] 
b) Con cháu khóc than làm cho người chết quyến luyến
mà bị đọa lạc. [Đúng] 
c) Người niệm Phật mà lúc lâm chung thương nhớ người
thân quyến thuộc thì sẽ mất phần vãng sanh. [Đúng] 
d) Người thế gian nghĩ rằng nhắc nhở đến sự nghiệp,
công danh, địa vị sẽ giúp người chết vui vẻ, mãn
nguyện và an lòng ra đi. [Sai] 
e) Phật dạy, người chết mà tâm tham tiếc vào gia tài, sự
nghiệp, danh vọng... thì bị đọa lạc. [Đúng] 
f) Người niệm Phật trước khi ra đi mà còn tiếc nhớ đến
gia tài, sự nghiệp, công danh địa vị thì sẽ mất vãng
sanh. [Đúng] 
g) Phật dạy tất cả đều do tâm tạo, nếu tâm cầu hết bệnh
thì sẽ hết bệnh. [Sai] 
h) Bệnh khổ thuộc về Thân nghiệp thì phải bị nghiệp 
chướng chi phối, còn tâm có Tự Tánh nên có thể làm
chủ được, nếu quyết cầu sanh Tịnh-Độ thì tâm này
theo nguyện mà vãng sanh. [Đúng] 
i) Lâm chung mà tham tiếc thân mạng thì tâm này phải
theo thân nghiệp mà chịu đọa lạc, khổ đau đời đời kiếp
kiếp. [Đúng]  
j) Hãy buông xả vạn duyên. Quyết lòng niệm Phật cầu
vãng sanh Tịnh-Độ, vĩnh viễn hưởng được an vui cực
lạc, một đời thành tựu đạo quả. [Đúng] 
 

8. Khai thị trong pháp hộ niệm cần chú ý:
a) Hộ niệm không cần khai thị gì cả. Chỉ niệm Phật để
giữ chánh niệm cho người bệnh là đủ. [Sai]
b) Người niệm Phật nếu thật sự đã được “Nhất tâm Bất
loạn” thì không cần hộ niệm, không cần khai thị nữa.
[Đúng]
c) Người phàm phu nghiệp nặng, tâm trí mê mờ, nên rất
cần sự khai thị hướng dẫn, để hóa giải vướng mắc thì
mới có thể vãng sanh. [Đúng]
d) Nhắc nhở người bệnh buông xả vạn duyên, chán chê
kiếp đời khổ não, quyết lòng niệm Phật cầu sanh TịnhĐộ
để một đời vãng sanh bất thối thành Phật. [Đúng]
e) Khai thị là khích lệ tinh thần kiên dũng cầu giải thoát,
nguyện cầu A-Di-Đà Phật tiếp độ. [Đúng]
f) Khai thị là hóa giải những khó khăn, giúp người bệnh
an tâm niệm Phật, không lo sợ, không khủng hoảng,
không buông xuôi theo nghiệp khổ. [Đúng] 
g) Người hộ niệm phải có năng lực mạnh mới hóa giải
được nạn oán thân trái chủ. [Sai] 
h) Người hộ niệm luôn luôn dùng lòng thành kính để điều
giải oán thân trái chủ mới tốt. [Đúng] 
i) Khai thị còn chú ý hướng dẫn gia đình thực hiện
nghiêm chỉnh quy luật Hộ-Niệm, tích cực trợ duyên
cho người thân được vãng sanh. [Đúng] 
j) Khai thị cần phải thuyết giảng những lý đạo cao siêu
để khai mở trí huệ cho người bệnh. [Sai] 
k) Khai Thị cần dựa vào Tín-Nguyện-Hạnh, từ ngữ đơn
giản, trực tiếp, rõ ràng, cụ thể, thích hợp với từng
người bệnh. [Đúng] 
l) Người hộ niệm một thời gian thì tự nhiên sẽ có năng
lực đặc biệt như thấy được cảnh giới vô hình, thấy
được oán thân trái chủ... [Sai] 
m) Người hộ niệm tự cho mình có năng lực đặc biệt coi
chừng bị tẩu hỏa nhập ma. [Đúng] 
 

9. Về tâm hạnh, người niệm Phật nên nhớ:
a) Hiền hậu niệm Phật mới dễ vãng sanh. Xin giữ hạnh
Khiêm-Cung-Từ-Ái. [Đúng]
b) Buông xả vạn duyên niệm Phật mới dễ vãng sanh. Xin
đừng chấp trước. [Đúng]
c) Chuyên nhất niệm Phật mới dễ vãng sanh. Xin đừng tu
hành quá xen tạp. [Đúng]
d) Định tâm vào câu Phật hiệu mới dễ vãng sanh. Xin
đừng ham mê kiến giải. [Đúng]
e) Có kiến thức rộng về Phật học là hiện tượng trí huệ đã 
khai mở. [Sai] 
f) Hàng hạ căn mà đam mê kiến thức rất dễ sinh ra vọng
tưởng. [Đúng]
g) Lòng chí thành, chí kính rất hợp với người niệm Phật
cầu vãng sanh. [Đúng]
h) Người có kiến thức thế gian tốt thì tu hành rất dễ thành
tựu. [Sai]
i) Phật dạy rằng người có kiến thức thế gian tốt rất khó
tu hành. [Đúng]
j) Niệm Phật mà chưa nhất tâm bất loạn thì nhất định
không thể vãng sanh. [Sai]
k) Thành kính niệm Phật mới dễ vãng sanh. Xin đừng
vọng cầu chứng đắc. [Đúng]
l) Thời nay nhiều người niệm Phật đã chứng được cảnh
giới nhất tâm bất loạn rất nhanh. [Sai]
m) Thời mạt pháp này mà mong cầu chứng đắc rất dễ bị
vướng ma nạn. [Đúng] 
n) Kiệt thành sám hối niệm Phật mới dễ vãng sanh. Xin
đừng khinh mạn. [Đúng]
o) Thượng mạn là cửa ngõ dễ nhất khiến cho người tu
hành bị vướng lưới ma. [Đúng]
p) Thấy mình còn là phàm phu, sợ đọa địa ngục lo niệm
Phật mới dễ vãng sanh. Xin đừng tự cho mình là hàng
thượng căn thượng trí. [Đúng] 
 

10. Thời mạt pháp này, tu hành muốn được an toàn,
chư Tổ căn dặn hàng phàm phu chúng ta những 
điều gì?

a) Chuyên lòng niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ mới có cơ
hội thành tựu đạo quả. [Đúng]
b) Niệm Phật phải có cảm ứng rõ rệt, chư Phật Bồ-Tát
thường hiện thân khai thị mới vững tâm. [Sai]
c) Không được hiếu kỳ, thấy điều gì hay hay liền chạy
theo thì rất dễ bị tà ma ngoại đạo lừa gạt. [Đúng]
d) Không được tham đắm những điều thần kỳ đặc dị, vì
dễ bị oán thân trái chủ cài bẫy hãm hại. [Đúng]
e) Không được ham thích những điều lạ thường, vì tà tâm
vọng tưởng dễ sinh ra. [Đúng]
f) Không được ham mê cảnh giới lạ, vì dễ lạc vào những
cảnh giới huyễn hóa, hão huyền. [Đúng]
g) Mong có thần thông rất dễ bị ma dựa, cầu chứng đắc
rất dễ vướng lưới ma. [Đúng]
h) Người nào đã chứng đắc cần nên khoe ra để tạo niềm
tin cho đại chúng. [Sai]
i) Chứng đắc thật thì không bao giờ khoe ra. Khoe ra thì
coi chừng là chứng đắc giả. [Đúng]
j) Chí thành chí kính là đạo nhiệm mầu giúp cho hàng
phàm phu vãng sanh thành đạo. [Đúng] 


Chương 10:

PHỤ LỤC


Phụ lục I:
(BA BÀI KHAI THỊ CHO OAN GIA TRÁI CHỦ
CỦA HT TỊNH KHÔNG)


1. CHÚNG ĐẲNG OAN GIA TRÁI CHỦ 

Phật nói đời người ở thế gian, nhỏ là gia đình quyến thuộc, lớn là quốc gia 
dân tộc đều không ngoài báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ. Do bốn thứ duyên này mà
tương hợp, huống chi là tập khí và nghiệp chướng của chúng sanh sâu nặng. Sống
thiếu ân thiếu nghĩa, bố thí đức huệ thì ít, kết oán thì nhiều, do đó mà luân hồi trong
lục đạo từ vô lượng kiếp đến nay trong oan oan tương báo, khổ không kể xiết! 
Chúng ta nhờ nhiều đời vun trồng thiện căn, nên nay gặp được chánh pháp,
cho nên phải một lòng quy y Tam Bảo, nghe lời Phật dạy đoạn ác tu thiện. 
Phật dạy: “Nhất thiết pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc”. Cho
nên phải trừ hết tất cả những oán kết của những gì đã qua, nhất là đối với những kẻ
oán thù của ta khi họ bị suy yếu bệnh khổ, chúng ta có thể xả bỏ thù xưa, giữ tâm ý
tốt, hộ trì giúp đỡ họ, lấy ơn báo oán, biến oán thành thân, dù sống trong biển
nghịch mênh mông chúng ta vẫn bước lên con đường quang minh rộng lớn để lìa
khổ được vui. 
Nguyện thường nghe kinh niệm Phật không gián đoạn, nhất tâm cầu sanh
Tịnh-Độ, tất sẽ được chư Phật hộ niệm, viên mãn Vô-Thượng Bồ-đề. Duy nguyện
chư nhân giả, y giáo phụng hành, hãy luôn nghĩ nhớ như vậy! 
HT Tịnh Không chứng minh. 


2. ĐỊA CHỦ VÀ TẤT CẢ CHƯ QUỶ THẦN CHÚNG 

Phật nói: "Nhất thiết chúng sanh bổn lai thành Phật" nhưng chỉ vì
vọng tưởng, chấp trước mà không được chứng đắc. Chúng ta ngày nay gặp
được chánh pháp nên chí thành quy y Tam Bảo, tuân theo giáo pháp của Phật,
sám trừ nghiệp tội, nỗ lực tu hành, nếu như tùy thuận tuân theo tham, sân, phiền
não, tạo ác quấy phá thì thật là đáng tiếc. Đối với những người bệnh khổ suy 
yếu, cần phải từ bi hộ niệm, chớ nên quấy phá khiến họ bất an. 
- Nên nhớ, nếu như chúng sanh không có Phật pháp, biển nghiệp mênh 
mông thì không thể thoát ly, thiện ác báo ứng như hình với bóng, luân hồi do
nghiệp lực dẫn dắt. Hôm nay chư vị tuy là đọa ác đạo nhưng vẫn có thể nắm bắt
cơ duyên, nghe kinh, niệm Phật, đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức, lấy tâm yêu
thương chân thành, hóa giải vô lượng oán thù, hộ trì chánh pháp, nhất tâm cầu
sanh A-Di-Đà Tịnh Độ. 
- Đây là nhân duyên trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được, duy nguyện
nhân giả luôn hiểu biết điều này để y giáo phụng hành. 
HT Tịnh Không chứng minh. 



3. LỜI ĐIỀU GIẢI

Đệ tử: .............. (tên người đọc) 
Kính thưa oan gia trái chủ từ vô thỉ kiếp! 
Mười phương chư Phật thì A-Di-Đà Phật đệ nhất, cửu phẩm độ
sanh, oai đức vô cùng cực, nguyện cùng quy y, sám hối tội chướng, phàm
được bao nhiêu phước thiện, chí tâm hồi hướng, nguyện cùng niệm Phật,
cảm ứng tùy hiện, thấy nghe tinh tấn, đồng sanh cực lạc, thấy Phật ngộ
đạo, chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển oán thành thân,
cùng làm pháp lữ, để cùng nhau chuyển biển nghiệp thành biển Liên Trì,
chư Phật độ sanh duy nguyện ngã thỉ kiếp. Oan gia trái chủ nghe pháp
mầu này tín thọ phụng hành. 
Đệ tử Tam Bảo 
……………………………………………… 
Đảnh lễ 
HT Tịnh Không chứng minh.


Phụ lục II: 

Những lời khai thị mẫu để tham khảo: (Dựa theo ý một số các cuộc tọa
đàm của cư sĩ Diệu Âm)

 
1. Người khai thị đối với người bệnh muốn tuyệt thực để mau được
vãng sanh: 

- Bác à! Trước hết con xin tán thán cái chí nguyện vãng sanh sớm của
Bác. Nhưng Bác quyết không ăn uống để mau được vãng sanh thì
không đúng rồi! Vì đâu phải mình muốn đi sớm là được đâu. Thọ
mạng của Bác đã có phần sẵn rồi, thêm một giờ, bớt một giờ cũng
không được. Bác nhịn ăn uống thì cơ thể suy nhược, đầu óc sẽ hôn mê
thì làm sao Bác phân biệt được đâu là oan gia trá hình, đâu là A-Di Đà-Phật để theo? Bác cần phải khỏe mạnh, tinh thần tỉnh táo để
vãng sanhchắc chắn phải tốt hơn bị đói khát mê man mà chết chứ?...
Chúng con phát tâm trợ niệm cho Bác thì trợ niệm tới cùng. Bác nằm
đây một ngày chúng con trợ niệm cho Bác một ngày. Bác nằm đây
một tháng chúng con sẽ trợ niệm cho Bác một tháng. Nhờ Bác mà
chúng con có cơ hội Niệm Phật nhiều, làm công đức lớn. Chúng sanh
ở quanh đây cũng nhờ vậy mà được lợi lạc. Vậy thì Bác cứ yên tâm,
đừng lo ngại nữa. Bác nằm bao lâu cũng được, hãy yên tâm mà niệm
A-Di-Đà-Phật cầu vãng sanh về TPCL. Đến khi nào được mãn bỏ báo
thân cứ để cho Phật A-Di-Đà lo đi nhé. Bác không thể nhịn ăn được,
vì nhịn ăn là tự tử. Phật không cho phép tự tử. Vậy Bác hãy ăn uống
lại cho khỏe nhé. Chịu không? (Vỗ tay lên!…). Ăn được ngày nào cứ
ăn, ăn đồ bổ dưỡng càng tốt, nhưng ăn đồ chay nhé, không thèm đồ
mặn. Chịu không? (Vỗ tay lên!…). Về TPCL Bác thành Bồ-Tát rồi,
quay lại độ chúng sanh và cứu tụi con nữa nghen Bác. 

2. Người khai thị giải quyết thế nào đối với người bệnh đang sợ chết:
- Bác Tư à! Tổ sư Thiện Đạo dạy rằng: “Người nào sợ chết thì mất
phần vãng sanh”. Người còn muốn sống thêm tại cõi này thì không
thật sự muốn vãng sanh TPCL. Thân mạng vô thường, cát bụi trở về
với cát bụi, nhưng chính Bác không chết đâu. Hãy bỏ cái thân tàn tạ
này, quyết lòng niệm A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL, hưởng đời an vui 
hạnh phúc. Bác nên nhớ kỹ, tất cả đều vô thường giả tạm. Chỉ có niệm
A-Di-Đà-Phật vãng sanh về TPCL thành Phật mới là chân thật. Nhất
định không được sợ chết nữa nhé. Sợ chết thì Bác bị chết, mất phần
vãng sanh mà còn bị đọa lạc. Oan uổng lắm!... 
- Bác Sáu à! Sống chết là lẽ thường. Chết là cái cục thịt này chết chứ
Bác không chết. Vậy thì tại sao ta lại chạy theo cái cục thịt này để bị
đọa lạc khổ đau? Khi còn sống thì ta niệm A-Di-Đà-Phật cầu vãng
sanh. Khi xác thịt bỏ đi, thì ta cũng niệm A-Di-Đà-Phật để về TPCL
thành Phật, rời xa cái thân bệnh hoạn nhơ nhớp này, thọ nhận một
cái thân không già, không bệnh, không chết có phải hay hơn không?  
- Bác Chín ơi!... Chúng ta không chết mà chỉ đổi cái thân tốt hơn hay
xấu hơn mà thôi. Vãng sanh về TPCL thì ta có cái thân kim cang bất
hoại. Chỉ vì sợ chết mà bị nạn. Tham cái thân mà bị đọa trong tam đồ
ác đạo đau khổ vô cùng!... Vậy thì Bác không được sợ chết nữa nhé.
Quyết lòng niệm câu A-Di-Đà-Phật cầu vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc, nhất định dịp này về miền Cực-Lạc thành đạo, chấm dứt
mọi khổ đau..  
- Bác Bảy à! Chết là cái thân này mình liệng đi, nhưng chính mình
không chết đâu. Mình vẫn còn sống mãi. Bác hãy kiên cường niệm
Phật với chúng con cầu về TPCL nhé. Đức A-Di-Đà Phật đã phát đại
thệ, nếu Bác niệm câu A-Di-Đà Phật, niệm được 10 niệm rồi ra đi
cũng được đi về TPCL. Nếu bác tin tưởng, hãy phát nguyện liền đi...
“Nam Mô A-Di-Đà Phật, xin Phật cho con về TPCL”... Thành tâm
phát nguyện liền đi Bác. Nhờ lời nguyện này mà bác được vãng sanh
đó. 


3. Người khai thị đối với người bệnh đang còn ganh ghét hay giận hờn một người nào:
- Bác Tư à! Bác đang giận (anh Ba) phải không? Cái giận, cái ghét đối
với người thế gian không biết tu hành thì là chuyện bình thường, vì họ
không muốn thoát khỏi lục đạo luân hồi. Nhưng Bác muốn vãng sanh mà
còn giận hờn, ganh ghét thì bị trở ngại lớn lắm rồi. Còn giận hờn, oán
ghét ai thì cả đời này Bác niệm Phật cầu vãng sanh bị thất bại rồi. Chính
cái tâm sân giận này sẽ kéo Bác thọ sanh vào những đường đọa lạc, dễ 
sợ lắm. Nếu bị đọa lạc quá khổ đau, thì cớ gì phải giận hờn ai mà đành
chịu nạn phải không Bác? Hơn nữa, Bác đang thành tâm sám hối với
chư vị mà mình giết hại họ để cầu xin họ tha thứ cho mình phải không?
Bác phải biết tha thứ, bao dung, độ lượng cho người khác, thì họ mới tha
thứ cho mình. (Anh Ba) có sai gì đi nữa thì cũng chưa đến nổi giết hại,
hành hình Bác mà Bác không chịu bỏ qua, thì oan gia trái chủ làm sao
có thể cảm thông sự sám hối của Bác mà tha thứ đây?...  
- Bác Bảy à! Hãy mở tâm yêu thương, bao dung, tha thứ mọi người, rồi
quyết lòng niệm A-Di-Đà-Phật cầu vãng sanh TPCL thì đó mới là chân
thành sám hối. Nếu mình có tâm oán giận ai thì oán thân trái chủ của
mình cũng sẽ quyết tâm báo thù cái nợ sanh mạng mà Bác đã gây ra cho
họ, vậy thì làm sao Bác có thể thoát nạn để về TPCL được. Hãy tha thứ
cho người làm sai với mình, để oan gia trái chủ tha thứ tội lỗi của mình.
Phải có tâm đại từ đại bi tha thứ tất cả, khoan dung tất cả, mới hợp với
tâm Phật, Bồ-Tát, mới vãng sanh về với Phật A-Di-Đà được. Bác hãy
buông xả tất cả niệm Phật cầu xin vãng sanh. Vãng sanh Bác thành đạo
rồi quay lại giúp đỡ tất cả, cứu độ oán thân trái chủ để chuộc lại lỗi lầm
của mình trong quá khứ. Cho nên muốn hóa giải với chư vị trong pháp
giới, thì chính Bác phải hóa giải chính cái tâm của mình trước nhé.
Quyết không còn giận hờn, ghét bỏ ai nữa. Quyết tâm niệm Phật cầu
vãng sanh nghen Bác!...       
- Chị Sáu à! Mình về Tây-Phương là thành Bồ-Tát, thành Phật. Phật Bồ Tát không bao giờ ghét một người nào hết. Đức Thích-Ca-Mâu-Ni
Phật lúc tiền thời, Ca-Lợi vương bắt xẻo thịt Ngài từng miếng từng miếng
trong khi Ngài không có lỗi lầm gì hết. Xẻo thịt gọi là lăng trì. Ấy thế mà
đức Phật còn nói khi ta thành Phật ta quyết lòng sẽ độ ông trước. Cái
tâm của Ngài rộng như vậy Ngài mới thành Phật được. Bây giờ Chị
muốn về Tây-Phương, muốn gia nhập chư Đại Thánh Chúng trên cõi
Tây-Phương mà Chị còn căm thù người này, căm thù người kia thì làm
sao có khả năng hội tụ với các Ngài?...Nhất định phải bỏ hết mới được
vãng sanh nghen Chị!       
- Anh Tám à! Phật dạy: “Nhân duyên quả báo tơ hào không sai”. Hiểu
được điều này thì tất cả đều do nhân quả cả. Người khác làm anh bực
mình, phiền não cũng là do chính Anh trong đời kiếp trước tạo ra nhân
này nên bây giờ mới nhận quả báo mà thôi. Đừng sơ ý mà đánh mất cơ
hội vãng sanh quý giá từ vô lượng kiếp qua. Bỏ qua đi để hóa giải cái
nhân quả đọa lạc mà vãng sanh về TPCL. Đừng chấp vào việc nhỏ nhặt
này mà chịu đọa lạc vạn kiếp nghe anh. Nhất định không giận, ghét ai
nữa nhé. 


4. Người khai thị giải quyết thế nào đối với người bệnh đang còn lo
lắng, thương nhớ, ái luyến con cháu, người thân ở xa?

- Bác tư à! Muốn vãng sanh Bác phải nhớ tới A-Di-Đà-Phật niệm câu ADi-Đà-Phật
cầu về TPCL, ngoài ra Bác không nên nhớ tới bất kỳ ai, dù cho
đó là người thân, con cháu. Nếu Bác vẫn còn thương nhớ, mong
ngóng con cháu thì nhất định không về tới được TPCL mà phải chịu đọa
lạc vạn kiếp. Đọa lạc rồi Bác làm sao mà quay trở về cứu giúp con cháu
đây, rồi con cháu cũng như Bác cũng sẽ bị đọa lạc. Nếu Bác thật sự
thương con nhớ cháu thì Bác phải quyết tâm hơn nữa niệm câu A-Di-Đà Phật cầu về TPCL thì mới thật sự là thương con nhớ cháu. Vì sao?...Vì về tới TPCL Bác mới có đạo lực thần thông quay lại cứu con cháu mình vãng sanh về TPCL được. Khi đó cả nhà sẽ được đoàn tụ trên cõi TPCL mãi mãi. Tuyệt đối không nghĩ tới con cháu nữa mà mất phần vãng sanh nghe Bác.
- Bác chín à! Nếu trước lúc lâm chung mà Bác còn thương con nhớ cháu,
Bác mất phần vãng sanh đã đành mà coi chừng Bác sẽ tái sanh lại làm
con vật nuôi trong nhà để được gần gũi con cháu. Nhưng con cháu vì
không biết đây là ông bà cha mẹ mình nên giết hại bác như bao nhiêu
con vật khác. Thật chua xót! Do vậy không còn con đường nào khác là
phải buông xả nhớ thương này ra, đừng lưu luyến lo lắng chúng nó nữa
mà phải quyết tâm niệm câu A-Di-Đà-Phật cầu A-Di-Đà-Phật tiếp dẫn
vãng sanh về TPCL. Đó mới là đúng đắn. Vì vãng sanh rồi mới có thần
thông đạo lực mình muốn gặp chúng nó thì dễ dàng, muốn cứu giúp
chúng nó vãng sanh cũng dễ dàng. Cả nhà đoàn tụ tại TPCL có phải là
chân thật thương chúng nó không? Vậy quyết tâm xả bỏ niệm A-Di-Đà Phật cầu về TPCL nghe Bác.
- Thưa Bác Hai! Phật dạy, đời người ở thế gian, nhỏ là gia đình quyến
thuộc, lớn là quốc gia dân tộc đều không ngoài báo ân, báo oán, đòi 
nợ, trả nợ. Con cháu trong gia đình cũng vậy, còn duyên thì ở bên
nhau, hết duyên thì đường ai nấy đi xét cho cùng là như vậy. Còn Bác
đến thế gian này một mình thì ra đi cũng một mình, nếu may mắn tái
sanh một gia đình khác thì có con cháu mới, luân chuyển như thế thì
chúng ta có vô lượng con cháu từ vô lượng kiếp đến giờ. Bác nên
sáng suốt quyết tâm niệm A-Di-Đà-Phật cầu A-Di-Đà-Phật tiếp dẫn
vãng sanh về TPCL, tuyệt đối không nhớ tới hay lưu luyến gì nữa. Vì
sao? Vì Bác ra đi không mang con cháu đi theo được mà lại bị đọa lạc vì
cái tâm thương nhớ con cháu. Chi bằng Bác quyết tâm không nghĩ nhớ
con cháu nữa, chỉ nghĩ tới A-Di-Đà-Phật cầu A-Di-Đà-Phật tiếp dẫn
vãng sanh về TPCL thì Bác sẽ gặp lại vô lượng vô biên con cháu từ vô
lượng kiếp. Không những thế Bác còn cứu giúp con cháu vãng sanh hội
tụ về TPCL bên nhau mãi mãi. Một niệm nhớ thương đọa lạc, một niệm
giác ngộ vãng sanh TPCL thành đạo cho chính mình và con cháu của
mình. Quyết tâm vãng sanh để cứu con cháu nhé Bác. 


5. Người khai thị giải quyết thế nào đối với người bệnh đang tham tiếc tài sản?
- Thưa Bác A! Phật dạy chúng ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và
khi ra đi cũng hai bàn tay trắng, duy chỉ có nghiệp mang theo. Cho nên
đối với tài sản vật chất như tiền bạc, vàng vòng, trang sức, nhà cửa, đất
đai… và ngay cả cái xác thân của mình cũng phải bỏ lại mà thôi. Vậy
Bác để tâm tới những thứ đó làm gì cho vô ích mà không để tâm tới câu
A-Di-Đà-Phật cầu vãng sanh TPCL. Lỡ mất phần vãng sanh bị đọa lạc
vạn kiếp thì có hối hận cũng đã quá muộn rồi. Muốn vãng sanh TPCL,
Bác phải niệm A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL từng giây từng phút chứ
không được nghĩ tưởng tới bất kỳ thứ gì khác thì Bác chắc chắn được
vãng sanh. Còn bây giờ Bác vẫn tham đắm những cái vô thường ấy
không nghe lời cháu khuyên thì thôi đành chịu thua. Cháu chẳng thể đảm
bảo cho Bác được vãng sanh tới 5%. Quyết lòng buông xả nhé Bác.
- Thưa anh B! Phật dạy vạn pháp tâm duyên sanh. Tâm anh duyên với sân
hận thì đọa vào địa ngục, tâm anh duyên với si mê không biết đúng sai,
tốt xấu thì sanh vào cõi súc sanh, tâm anh hiền lành giúp người, thương
vật, ăn ở có đạo đức duyên với thiện lành thì sanh vào ba cõi thiện: Trời, 
Người, Atula, tâm anh duyên với câu A-Di-Đà-Phật cầu vãng sanh TPCL
thì nhất định chắc chắn anh được vãng sanh về TPCL. Còn nếu như tâm
anh duyên với tham tài sản, tiền bạc, nhà cửa, thì sanh vào cõi Ngạ quỷ
chịu đói khát, đau khổ hàng vạn năm. Do vậy giữa cái đọa lạc khổ đau
và cái sung sướng, thần thông tự tại muốn gì được nấy của cõi TPCL anh
chọn cái nào đây? TPCL đúng không. Vậy thì anh còn chần chờ gì nữa
mà không tranh thủ từng giây từng phút để niệm câu A-Di-Đà-Phật cầu
vãng sanh về TPCL. Anh vãng sanh sớm được ngày nào thì hưởng sự vui
sướng sớm được ngày ấy. Tiếc chi cái gia tài vô thường này mà chịu nạn.
Những thứ như tiền bạc, tài sản anh có mang theo được đâu mà lại khiến
cái tâm anh dính mắc vào để trở thành Quỷ đói. Anh cứ mạnh dạn giao
lại cho con cháu, rồi quyết lòng quên nó đi mà niệm A-Di-Đà-Phật cầu
vãng sanh về TPCL nghe anh. 
- Bà Triệu Vinh Phương vãng sanh. Lúc sinh thời cụ có một sợi dây
chuyền có tượng Phật bằng ngọc, đế làm bằng cát bên sông hằng Ấn Độ.
Đây là vật gia bảo luôn mang theo bên mình, được truyền từ đời này
sang đời khác rất quý hiếm. Thế mà khi cụ ngộ ra con đường niệm câu
A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL cụ giao lại cho người con dâu và dặn
“Đừng bao giờ cho mẹ thấy sợi dây chuyền này nữa”. Ai tới hỏi thăm cụ
cũng niệm A-Di-Đà-Phật, hỏi cụ khỏe không cụ cũng trả lời bằng câu ADi-Đà-Phật, không nói một câu gì ngoài câu A-Di-Đà-Phật. Gần ngày ra đi cụ đã thấy A-Di-Đà-Phật hai lần và niệm Phật tới hơi thở cuối
cùng. Cụ đã vãng sanh thật vi diệu để lại rất nhiều xá lợi trong đó có xá
lợi hình đóa sen và tượng Phật. Bác thấy đó, muốn vãng sanh thì phải
như vậy mới được. Cụ Triệu Vinh Phương có sợi dây chuyền gia truyền
quý giá vậy mà khi ngộ đạo cụ ấy bỏ luôn không thèm để ý tới còn mình
thì lại dính mắc, lo lắng, lại sợ mất đủ thứ thì làm sao A-Di-Đà-Phật
rước mình được. Vậy giờ Bác nghe lời con giao lại cho con cháu những
tài sản vật chất này để con cháu làm lành làm phước hỗ trợ cho Bác
vãng sanh. Còn Bác cũng phải quyết lòng như cụ Triệu Vinh Phương
buông xả tất cả, chỉ giữ mỗi một câu A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL thì Bác
chắc chắn được vãng sanh TPCL hưởng sự vui sướng không cùng tận.
Quyết tâm như cụ Triệu nghen Bác. 


6. Người khai thị giải quyết thế nào khi người bệnh nói là đã thấy người thân đã mất tới đón? 
- Bác ơi! Muốn vãng sanh TPCL thì tất cả những gì hiện ra cũng mặc kệ.
Bác tuyệt đối không được đi theo bất kỳ ai, chỉ được quyền đi theo A-Di Đà Phật như tấm hình treo trước mặt (Trong trường hợp này nếu chưa được hộ niệm thì khuyên gia đình nên thỉnh mời BHN gấp rút chuẩn bị hộ niệm càng sớm càng tốt, không được chần chờ nữa).


7. Người khai thị giải quyết thế nào khi người bệnh nói là đã cảm ứng
thấy chư Phật, Bồ-Tát? 

- Bác thấy được chư Phật, Bồ-Tát là tốt rồi. Mấy Ngài tới động viên Bác
niệm Phật đấy nhé. Biết vậy Bác phải càng tha thiết, chân thành cố gắng
niệm A-Di-Đà-Phật cầu xin A-Di-Đà-Phật tiếp dẫn về TPCL mạnh mẽ
hơn nữa nhé! Bác thổ lộ cho Con là đủ rồi, mau mau nhiếp cái tâm lại để
niệm A-Di-Đà-Phật. Nếu tâm Bác vọng động ham thích khoe với người
này người nọ thì những cảm ứng ấy sẽ biến thành chướng ngại con
đường vãng sanh của Bác đấy. Bác chỉ được quyền đi theo A-Di-Đà Phật giống như tấm hình trước mặt, ngoài ra tuyệt đối không được theo bất kỳ ai khác cho dù đó là Phật Thích-Ca-Mâu-Ni, Phật Dược-Sư, Bồ Tát Quán-Thế-Âm, Đại-Thế-Chí hay Địa-Tạng Vương-Bồ tát nhé…Mau mau định tâm lại niệm Phật nghen Bác!
- Bác à! Những gì Bác thấy rất là tốt chứng tỏ Bác đã tinh tấn niệm Phật
cũng như đã rất tha thiết muốn được vãng sanh càng sớm càng tốt phải
không ạ? Mấy Ngài tới là để điềm chỉ cho Bác là cần cố gắng hơn nữa
mới được, phải nguyện tha thiết hơn nữa ạ! Điều Bác thấy chứng tỏ lúc
nào Bác niệm A-Di-Đà-Phật cũng có 25 vị Bồ-Tát vây quanh bảo vệ rất
an toàn, nhưng với điều kiện Bác phải chân thành muốn vãng sanh,
buông xả tất cả những gì ở thế gian này thì mới được vậy. Nếu Bác
không xả ra được thì Bác cũng không còn được bảo vệ nữa đâu ạ! Thôi
được rồi giờ Bác phải nhiếp tâm lại niệm câu A-Di-Đà-Phật quyết tâm
cầu vãng sanh TPCL khi nào A-Di-Đà-Phật tới thì đi theo Ngài mà vãng
sanh. Tất cả những cảnh tượng gì hoặc bất kỳ ai hiện ra cũng mặc kệ,
đừng để động tâm nữa nhé. Chỉ quyết lòng niệm A-Di-Đà-Phật, đi theo
A-Di-Đà-Phật mà thôi. Về TPCL thành đạo rồi quay lại cứu chúng con 
nha Bác!
- Người bệnh nói: “Tối qua tôi mộng thấy A-Di-Đà-Phật tới xoa xoa đầu
mấy cái rồi biến mất...”. Hình dáng Phật như thế nào ạ? Giống như tấm
hình treo trên tường. Thật là tốt không gì bằng. Bác niệm Phật rất chân
thành nên cảm ứng đấy ạ. Nhưng Bác cũng không được chủ quan và tự
mãn mà trở thành chướng ngại đó nhé. Chừng nào về tới TPCL rồi mới
an tâm. Dù sao đi nữa đó cũng chỉ là một sự cảm ứng do lòng chí thành
mà thôi chứ chưa đảm bảo gì cả. Từ giờ tới khi xả bỏ cái báo thân bệnh
hoạn này Bác vẫn phải tiếp tục cố gắng buông xả thật nhiều hơn nữa và
quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh. Chuyện này Bác không nên khoe
ra cho mọi người mà tâm sẽ bị động không tốt. Bác nên nghĩ như vậy
“Thấy cũng như không thấy”. Bác hãy niệm câu A-Di-Đà-Phật và chỉ đi
theo A-Di-Đà-Phật mà thôi, tất cả những gì hiện ra đều là giả thì mới
không trở ngại. Quyết tâm kiên cố nghen Bác. 


8. Người khai thị giải quyết thế nào khi người bệnh nói là nghiệp tôi
nặng quá, phải sám hối cho tiêu nghiệp mới vãng sanh được?

- Trong kinh Quán-Vô-Lương Thọ Phật có nói đến vua A Xà Thế giết chahại mẹ, phạm tội ngũ nghịch sẽ đọa vào địa ngục vô gián không có ngày ra, thế mà khi sắp lâm chung biết được pháp môn niệm Phật. Ngài đã phát tâm sám hối mãnh liệt, quyết tâm trì giữ câu A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL. Ngài được vãng sanh về TPCL với phẩm vị rất cao, thượng phẩm trung sanh. Còn Bác có làm gì đi nữa cũng chưa phạm cái tội ngũ nghịch
như vua A Xà Thế thì làm sao Bác mất phần vãng sanh? Bác cần phải tin
cho vững, nguyện cho thiết tha; buông xả chuyện thế gian xuống; trong
tâm chỉ có câu A-Di-Đà-Phật cầu vãng sanh về TPCL. Ngoài ra Bác
không được cầu cái gì khác, Bác nói là nghiệp của bác nặng quá, kệ nó.
Bác không được cầu tiêu nghiệp mà phải cầu vãng sanh TPCL thì mới
được vãng sanh. Chứ Bác cứ nhớ tới cái nghiệp, lo sợ cái nghiệp thì
nghiệp nó quấn lấy mình… mất phần vãng sanh! Pháp môn niệm Phật là
pháp môn đới nghiệp vãng sanh, tức là A-Di-Đà-Phật cho chúng ta
mang theo cái nghiệp quá khứ về TPCL. Bác yên tâm đi nhé! Bác đã sám
hối rồi thì cũng quên nó luôn đi. Việc Bác cần làm là chỉ nhớ tới A-Di Đà-Phật, niệm câu A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL, ngoài ra không được 
nghĩ tới gì khác thì Con sẽ đảm bảo cho Bác 95% được vãng sanh TPCL.
Tin tưởng vững vàng lên Bác. 


9. Người khai thị giải quyết thế nào khi người bệnh nói là là tôi niệm
Phật ít quá không đủ công đức, lại tội chướng nhiều không biết có
được vãng sanh không?

- Bác phải tin tưởng vững vàng mới được vãng sanh. Vì sao? Vì Ngài
Ngẫu Ích dạy rằng: “Được vãng sanh hay không hoàn toàn do Tín và
Nguyện, phẩm vị cao thấp là do trì danh sâu hay cạn; dẫu cho niệm Phật
loạn tâm cũng được vãng sanh”. Niệm Phật nhiều hay ít chỉ ảnh hưởng
phẩm vị cao thấp thôi. Thế thì Bác còn gì mà nghi ngờ nữa chứ! Vậy
thì Bác biết mình cần làm những gì rồi phải không? Phải buông,
trong tâm rỗng rang niệm Phật cầu sanh TPCL thì ai ai cũng được
vãng sanh. Chắc chắn và nhất định như vậy. Còn nghiệp chướng Bác
đừng để tâm tới, vì sao?... Vì pháp môn này là mang cái nghiệp để đi
vãng sanh chứ không phải diệt nghiệp chứng đắc, nhưng Bác nên chú
ý là Phật chỉ cho Bác mang theo nghiệp cũ chứ không mang theo cái
tập khí thị phi, đố kỵ, ganh ghét, thù hận, tham sống, sợ chết, sợ bệnh,
lo lắng cái nhà, tài sản, con cái… Nếu Bác còn dính mắc những thứ
này thì hãy buông xuống liền mà niệm A-Di-Đà-Phật cầu về TPCL thì
việc vãng sanh mới an toàn được. Chúng con luôn yểm trợ cho Bác để
thêm phần chắc chắn. Dũng mãnh tin tưởng lên nghen Bác.


10. Người khai thị nên nhắc nhở như thế nào khi người bệnh đang trong cơn hấp hối?
- Bác Tám ơi! Giờ phút này Bác đã sắp sửa buông báo thân rồi. Mau
mau nhiếp tâm lại niệm câu A-Di-Đà Phật để theo A-Di-Đà Phật
vãng sanh về TPCL. Đây là cái giây phút hết sức quan trọng, đừng
phân tâm, đừng chao đảo, cố gắng niệm theo chúng con, chờ A-Di-Đà
Phật đến, theo A-Di-Đà Phật vãng sanh về TPCL.
- Bác Bảy ơi! Bao nhiêu năm qua Bác chờ đợi cái giờ phút này để theo
A-Di-Đà Phật vãng sanh về Tây-Phương thành đạo. Thì giờ phút này
sắp đến rồi. Hãy vui vẻ lên! Nhiếp tâm lại niệm A-Di-Đà Phật để cơ
hội này mình được vãng sanh thành đạo. Nhất định đừng có phân tâm 
nhé. Trong giờ phút này tất cả mọi cảnh giới chỉ là huyễn mộng!... Là
giả!... Xin bác hãy nhiếp tâm niệm A-Di-Đà Phật, theo A-Di-Đà Phật.
Tuyệt đối không theo một vị nào khác... 
- Bác Chín ơi! Một đời mình tu hành là chờ đến cái giây phút này để xả
bỏ báo thân, xả bỏ những thứ vô thường của cuộc đời, đi về Tây Phương thành đạo. Thì đây là cơ hội thù thắng. Bác phải vui mừng lên, vững vàng, theo A-Di-ĐàPhật. Nhớ niệm theo chúng con nhé...
- Bác Mười ơi!… Giờ phút ra đi đã sắp tới rồi. Hãy kiên cường, dũng
mãnh, vui vẻ lên, niệm Phật với chúng con. Quyết chờ A-Di-Đà Phật
đến tiếp dẫn, theo Ngài vãng sanh thành đạo. Nhớ nhé! Giờ đây chỉ còn
niệm A-Di-Đà Phật. Quyết buông hết tất cả.  
- Bác Sáu ơi! Cố gắng tranh thủ từng giây niệm A-Di-Đà Phật. Kiên
cường, vững mạnh nhé. Có chúng con đang ở chung quanh Bác hộ
niệm đây. Vững vàng nhé!... Có quang minh chư Phật đang bao phủ
tại đây. Mau mau nhiếp tâm niệm A-Di-Đà Phật để theo A-Di-Đà
Phật về TPCL.
 

11. Sau mười lăm phút tắt hơi, trong khi đồng tu vẫn đứng chắp tay
niệm Phật thật mạnh. Người khai thị nhắc nhở cho người mất như
thế nào? 

- “Phật tử Trần văn X, nên nhớ rằng, Phật tử thật sự đã buông xả báo
thân rồi. Đừng lưu luyến thân xác này. Đừng lưu luyến gia đình con
cháu nữa. Nhất định phải nhiếp tâm lại niệm câu A-Di-Đà Phật. Giai
đoạn này vô cùng quan trọng. Đừng sơ ý, đừng phân tâm mà lỡ luống
qua cơ hội này thì ngàn vạn kiếp sau bị khó khăn. Quyết tâm đi về
Tây-Phương. A-Di Đà Phật đang phóng quang tới đây, mau mau theo
A-Di-Đà Phật để về TPCL nhé”.
 

12. “Sau ba mươi phút, người khai thị ra dấu tạm thời ngưng niệm
Phật lại vài phút để nhắc nhở hướng dẫn người mất. Lời khai thị
phải như thế nào? 

- Phật tử Trần văn X..., pháp danh Y... bây giờ đã ba mươi phút xả bỏ
báo thân. Trong giờ phút này thật sự là một bài pháp rất là thấm thía
cho Phật tử. Rõ ràng là mình đã bỏ cái báo thân, là mình đã bỏ cái 
cục thịt nhơ bẩn vô thường của thế gian, nhưng chính Phật tử còn
đang sống, còn đang nghe... Như vậy rõ ràng Phật tử không chết.
Trong giờ phút này mà còn ở tại đây tức là bị trở ngại! Hãy mau mau
nhiếp tâm lại, một câu A-Di-Đà Phật mà niệm, quyết lòng theo A-DiĐà
Phật...
(Khi nói tới đó, mình thường chỉ tay về hướng ảnh tượng
đức A-Di-Đà). Phật tử phải nhiếp tâm lại niệm Phật để theo
A-Di-Đà Phật về TPCL. Nhất định đừng chao đảo, đừng luyến lưu, đừng phân tâm,đừng để bất cứ một điều gì chi phối mà quên lãng con đường về Tây-Phương (Nói cho rõ ràng, sau đó thì mình mời).
Bây giờ xin Phật tử nhiếp tâm lại, niệm Phật đi theo A-Di-Đà Phật.
- Nam Mô A-Di-Đà Phật, hương linh Trần văn X... Đời này vô thường,
sống tạm, ta lìa báo thân thì về Tây-Phương thành đạo. Phật dạy: Chân tâm tự tánh của ta là Phật, là Phật thì mau mau giác ngộ, bỏ hết tất cả những gì vô thường, theo A-Di-Đà Phật để thành đạo. Nếu ngay từ bây
giờ mà không ngộ ra, còn luyến lưu chuyện này, chuyện nọ, thì vô lượng
kiếp phải chịu trầm luân. Đây là một cơ hội vô cùng quý giá quyết định
vạn kiếp trong tương lai, nhất định phải sáng suốt, nhất định phải buông
vạn duyên xuống để niệm câu A-Di-Đà Phật đi về Tây-Phương. Trong
những giây phút này, tuyệt đối không để ý gì đến những cảnh giới chung
quanh. Nhiếp tâm lại, đừng có ngại, có chúng tôi bảo vệ đây, có chúng
tôi niệm Phật, có quang minh của Phật ở tại đây, niệm A-Di-Đà Phật, tất
cả đều được an toàn theo A-Di-Đà Phật về Tây-Phương Cực-Lạc.  


13. Vài lời khai thị mẫu về oán thân trái chủ sau khi lâm chung:
- Nam Mô A-Di-Đà Phật. Ngưỡng mong chư vị trong pháp giới hiện
hữu nơi đây đừng nên chống phá hương linh Trần Văn X, mà nên kết
duyên lành với hương linh để hộ niệm cho hương linh Trần Văn X
sớm được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, công đức này vô lượng
vô biên. Xin vì vấn đề liễu đoạn sanh tử, mong chư vị phát tâm bồ-đề
cùng với chúng tôi niệm A-Di-Đà Phật, hộ niệm cho hương linh sớm
vãng sanh về Tây-Phương-Cực-Lạc, nhờ công đức này chư vị cũng
được vãng sanh về Tây-Phương Cực Lạc.
 

Phụ lục III:

QUY ĐỊNH CHO GIA ĐÌNH NGƯỜI BỆNH

Muốn được Ban-Hộ-Niệm trợ niệm cho người thân của mình, gia đình
phải:
1/ Tin tưởng Phật pháp, thật lòng muốn Ban-Hộ-Niệm trợ duyên cho
người thân của mình vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc. Gia chủ hoặc người đại
diện gia đình phải trực tiếp liên lạc mời Ban-Hộ-Niệm. Đây là nguyên tắc.
2/ Trước khi được hộ niệm, Ban-Hộ-Niệm cần gặp nói chuyện với gia
đình để thông báo những quy tắc về hộ niệm. Gia đình phải nhất mực tin
tưởng và phải đồng ý thực hiện đúng theo sự hướng dẫn của Ban-Hộ-Niệm.
Nếu gia đình không chấp nhận hoặc làm không đúng theo quy tắc này, thì
Ban-Hộ-Niệm sẽ từ chối việc hộ niệm. Nếu có điều gì khó khăn, trở ngại việc
thực hiện, gia đình phải nói rõ với Ban-Hộ-Niệm trước khi khởi sự hộ niệm.
Cụ thể gia đình cần chú ý những điểm sau đây:
3/ Hộ Niệm hoàn toàn vì lòng thiện nguyện của Ban-Hộ-Niệm. Gia
đình tuyệt đối không cần bận tâm lo bất cứ hình thức thù lao hay trả ơn nào
cả.
4/ Cần chuẩn bị một phòng tương đối gọn gàng, thoáng mát, trang
nghiêm. Ban-Hộ-Niệm sẽ hướng dẫn thiết trí hình Phật A-di-đà và các thứ cần
thiết. Gia đình không được tự ý trưng bày tranh ảnh hoặc hình tượng gì khác.
5/ Ban-Hộ-Niệm chỉ niệm Phật hướng dẫn trợ duyên người bệnh vãng
sanh Tịnh-độ, không tụng kinh cầu an, không cầu chóng bình phục. Gia đình
không được xen tạp những hình thức gì khác kể từ lúc khởi sự hộ niệm. gia
đình phải hiểu rõ điều này: Hộ niệm là giúp cho người bệnh niệm Phật với đầy
đủ Tín-Nguyện-Hạnh để được vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, chứ không
phải cầu cho hết bệnh. Nếu thọ mạng chưa hết, thì nhờ lòng thành kính mà
được Phật lực gia trì tự nhiên hết bệnh. Nếu thọ mạng đã mãn thì sẽ được
vãng sanh nước Cực-Lạc, thoát vòng sanh tử, một đời thành tựu đạo quả,
hưởng an vui cực lạc. Nếu cầu hết bệnh thì không được Phật lực gia trì, không
hết bệnh, cũng không được vãng sanh.
6/ Gia đình phải chí tâm niệm Phật trợ niệm là chính. Chỉ được coi
ngày giờ tẩm liệm, hay lo hậu sự sau khi xong thời gian hộ niệm.
7/ Gia đình cần hỗ trợ tâm đạo của người bệnh, cần giữ thanh tịnh,
tranh thủ thời giờ niệm Phật, tha thiết cầu vãng sanh. Con cháu không được
nói lời bi quan, thăm hỏi vẩn vơ mà làm rối tâm người bệnh. Không được 
khóc lóc, than vãn. Lúc lâm chung tuyệt đối không được kêu khóc, ồn náo.
Không được đụng chạm vào thân xác ít ra trong vòng 8 giờ kể từ khi tắt hơi.
8/ Trong nhà có nuôi chó, mèo… nên cẩn thận nhốt chúng lại, hoặc
phải canh chừng không được để chúng lai vãng đến gần.
9/ Gia đình phải kiêng cữ sát sanh hại vật, dù là những loài vật nhỏ
như ruồi, muỗi, kiến, v.v… kể từ khi bắt đầu hộ niệm cho đến 49 ngày sau
khi người bệnh ra đi. Khuyến khích phóng sanh, làm việc công đức để hồi
hướng cho người bệnh vãng sanh. Khuyến khích gia đình ăn chay. Cữ ăn loại
ngũ tân như: tỏi, hành, hẹ, kiệu, hành tây... trong suốt thời gian hộ niệm.
Nấu nướng cần gọn nhẹ, tránh mùi thức ăn xông lên tới chỗ đang hộ niệm.
10/ Giảm chế tối đa người thân, bạn bè thăm viếng đến trực tiếp nói
chuyện với người bệnh. Gia đình phải kiên quyết giữ gìn điều này để tránh sự
lạc tâm, uổng phí công sức hộ niệm!
11/ Người nhà cần phải tham gia hộ niệm, nhưng phải nhất mực tuân
theo sự hướng dẫn của BHN. Không được tự ý thêm bớt hoặc cố tình thay đổi
phương pháp hộ niệm.
12/ Khi đang nằm ở bệnh viện, khi thấy bệnh tình trầm trọng không còn
cách nào chữa trị được nữa, gia đình nên gấp rút xin xuất viện để về nhà lo bề
hộ niệm, vì điều kiện trong bệnh viện rất khó hộ niệm!
13/ Nếu trường hợp không thể xuất viện được, gia đình phải liên hệ
trước với bác sĩ xin giảm thiểu lượng thuốc mê, morphine… để giúp người
bệnh tỉnh táo niệm Phật. Khi tắt hơi xong, yêu cầu không được đụng chạm
đến thân xác, không cần rút kim, chỉ nên khóa tất cả các ống hóa chất, ống
dưỡng khí… Xin được chuyển đến một phòng riêng và dành thời gian tối
thiểu là 8 giờ để hộ niệm. Nếu không được những điều kiện này thì không thể
hộ niệm được.
14/ Gia đinh cần cử một người để liên lạc với Ban-Hộ-Niệm. Nếu có
vấn đề gì cần thiết thì thông báo trực riếp với trưởng Ban-Hộ-Niệm, không
được bàn với các vị đang niệm Phật.
15/ Gia đình phải chú tâm thực hiện đầy đủ các điều khoản trên. Nếu
không, Ban-Hộ-Niệm sẽ đình chỉ việc hộ niệm. Mọi hình thức trợ giúp gì sau
đó chỉ là phần cá nhân thực hiện lấy.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.


Phần phụ lục IV: 
NỘI QUY CHO THÀNH VIÊN BAN HỘ NIỆM 

1. Ban-Hộ-Niệm (BHN), hay còn gọi là Nhóm-Cộng-Tu (NCT) có 
chủ đích chính là cùng nhau niệm Phật tu hành cầu sanh Tịnh-Độ và tích cực
hộ niệm cứu người lâm chung được vãng sanh Cực-Lạc theo đúng tôn chỉ
của Tịnh-Độ-Tông. Ngoài ra, tuyệt đối không dính mắc đến bất cứ một hoạt
động nào khác. Mọi sinh hoạt nào khác với chủ đích trên là phần riêng tư cá
nhân, không được đem ra bàn thảo, phổ biến, hoặc tuyên truyền... trong
phạm vi BHN hoặc NCT. 
2. Hộ viên BHN hoặc NCT chỉ dành cho liên hữu, đồng tu, Phật tử tin
tưởng pháp niệm Phật cầu vãng sanh, không nhận người có tánh hiếu kỳ vào
BHN. Tất cả hộ viên đều hoàn toàn tự nguyện, tự ghi tên, địa chỉ và số điện
thoại vào danh sách để dễ liên lạc. 
3. Hộ viên cần nên phát tâm Bồ-Đề, cụ thể là phải có lòng chân thành,
thiết tha muốn hộ niệm cứu độ người vãng sanh. Khi hữu sự phải tích cực
tham gia việc cứu độ. Cần có tâm niệm cảm ơn người bệnh vì nhờ họ mà
mình lập được công đức và nhân lành Tịnh-Độ. Xin đừng tham gia vào BHN
một cách miễn cưỡng hoặc hiếu kỳ. 
4. Hộ viên cần tham dự đầy đủ các cuộc họp của BHN để rút tỉa ưu
khuyết điểm, học hỏi thêm về cách thức hộ niệm cho vững vàng, hầu tránh
những điều lỗi lầm đáng tiếc có thể xảy ra!... 
5. Mọi người đều nên học tập cách khai thị hướng dẫn bệnh nhân, hòa
giải oan gia trái chủ. Tuy nhiên, việc khai thị vẫn thường dành cho chư vị
Tăng-Ni (trong BHN), Trưởng ban, Trưởng nhóm hoặc các vị có kinh
nghiệm (đã có chuẩn bị trước). Hộ viên, nếu không cần thiết thì đừng tự ý
xen vào việc khai thị, hoặc hướng dẫn bệnh nhân để tránh những tình huống
sai trái như: lời nói tiêu cực, nói sai pháp, hướng dẫn sai đường v.v... Không
được có lời nói hoặc cử chỉ nào làm cho người bệnh bị thối tâm, nản lòng, 
hồ nghi, rối loạn, phiền não, khủng hoảng hoặc tức bực. Cụ thể nên tránh: 
hạch hỏi quá nhiều bắt người bệnh phải trả lời, tránh khui ra lỗi lầm của
bệnh nhân, nói đến những cảnh giới hung dữ, nói lời cộc cằn thiếu tế nhị
v.v... Nói chung, khai thị không phải là nói đạo lý cao siêu, mà chính là
khích lệ người bệnh không nên sợ chết, chỉ nên quyết lòng buông xả vạn
duyên, thành tâm niệm Phật. Hướng dẫn cần ngắn gọn, cụ thể, rõ ràng
đường vãng sanh Cực-Lạc, đồng thời hóa giải chướng ngại, tháo gỡ những
vướng mắc để người bệnh an tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ.  
6. Tự đem theo nước uống và thức ăn, không nên làm phiền chủ
nhà. Tuyệt đối không được nhận tiền lì-xì hoặc bất cứ quà tặng gì nhằm
đền ơn đáp lễ từ gia quyến người vãng sanh. 
7. BHN chỉ đơn thuần niệm Phật hộ niệm vãng sanh. Không làm các việc:
cúng tế, cầu siêu, cầu an, lo việc hậu sự… Không được vận động bất cứ một hình
thức nào về tiền bạc để: phúng điếu, vòng hoa, phụ giúp tang gia.... Những việc
này là vấn đề cá nhân hoặc thuộc phạm vi khác. 
8. Cố gắng đến trước giờ quy định ít nhất 10 phút, hộ niệm nên chia
thành phiên, mỗi phiên 2 tiếng. Thay phiên, cần nên chờ cho nhóm khác tới
thay thế mới được ra về. Phải giữ thân tâm luôn được tỉnh táo, chỉ nên niệm
trong phiên của mình, không nên niệm liên tục quá lâu (ngoại trừ những
trường hợp đặc biệt). Xong phiên hộ niệm nên nhớ hồi hướng công đức cho
bệnh nhân. 
9. Khi hộ niệm có thể dùng khánh (nhưng cần nên hỏi qua bệnh
nhân). Không được dùng mõ. 
10. Niệm Phật có thể là sáu chữ Nam Mô A-Di-Đà Phật hoặc bốn chữ
A-Di-Đà Phật, nên tùy theo thói quen hoặc yêu cầu của bệnh nhân. Chú ý
điều chỉnh tốc độ và âm lượng cho hợp theo với người bệnh. Thông thường,
không nên niệm nhanh quá hoặc chậm quá (tức là trung đạo). 
11. Trong thời gian chờ hộ niệm hoặc xong phiên hộ niệm xin giữ
thanh tịnh niệm Phật, không nên tham gia vào các công việc của gia đình.
Hộ viên không làm các việc như: chăm sóc, thay áo quần, vệ sinh, liên lạc
bác sĩ, liên lạc bệnh viện v.v... Những việc này là nhiệm vụ của thân nhân. 
12. Tránh mọi sự xúc động, giọng nói nghẹn ngào, hỏi han về gia sự.
Tránh cầu chúc hết bệnh hay an ủi theo tập tục thế gian. Tránh cãi cọ, nói
chuyện riêng, cười đùa, đi lại quá nhiều. Tránh ách xì, tằng hắng, khạc nhổ,
ho, v.v... trong khi hộ niệm. Khi mắc phải nên cung kính xá Phật, ra ngoài
giải quyết rồi trở lại. 
13. Các vị đồng tu có âm giọng quá cao hoặc quá sắc không nên tham
gia hộ niệm vì dễ gây cảm giác khó chịu cho bệnh nhân. Nếu muốn được hộ
niệm, thì nên ngồi xa và phải niệm nhỏ. 
14. Những hộ viên đang bị cảm, sức khỏe quá yếu không nên tham
gia hộ niệm. Những người mà bình thời thường hay xung đột với người bệnh
cũng cần tránh tham gia hộ niệm. 
15. Tất cả hộ viên cần chú ý thực hiện đầy đủ theo bảng nội quy này để
việc hộ niệm được viên mãn, cứu độ người được vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc. 
Nam Mô A Di Đà Phật.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về NukeViet 3?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây